KHOA HỌC TÂM LINH

Khám phá sự tuyệt đối nhờ vào tính toàn diện của cả 3 loại khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

CHIỀU SÂU CỦA PHƯƠNG TIỆN VÀ CỨU CÁNH

Tùy quan niệm sống của mỗi cá nhân, phương tiện và cứu cánh ở mức tương đối hoặc tuyệt đối. Mức tuyệt đối thuộc về đời sống tâm linh - một đời sống bao gồm cả Nhân sinh quan và Vũ trụ quan, còn mức tương đối ở đời sống tinh thần và vật chất. Nhưng tất cả các loại phương tiện vô hình mà mọi người dễ nhận ra trong sự đối chiếu giữa Đạo và Đời.

Cùng đích của Đạo, là đưa con người đến sự hằng sống, tức là đưa con người thoát khỏi vòng Sinh, Diệt.

Hay là, Đạo lý chỉ, dạy, con người tiến hóa chủ động, nhanh chóng để cho sự sống trở thành năng lực tự tạo, bằng cách sống và sinh hoạt với những bộ phận vô hình và mầu nhiệm (như Tâm Trí, Siêu Trí, Tuệ, Lương Tâm, Tánh của vũ trụ sinh động trong nhân tánh v.v…).

Còn vòng Sinh Diệt là gì?

- Vòng Sinh, Diệt thuộc về sự tiến hóa tự động của tạo vật, kể cả những tạo vật vô hình như Tâm, Trí trong con người.

Như trong “cái Sinh sau”, sức sống và các thể hình thành sức sống đó mạnh và lớn hơn nhiều so với “cái Sinh trước”.

Đối với tạo vật hữu hình, như hột giống, từ một hột giống sinh ra nhiều hột giống khác. Đối với tạo vật vô hình, như tâm hồn (Tâm, Trí) sinh ra linh hồn (Siêu Tâm, Siêu Trí). Nhưng linh hồn mạnh hơn tâm hồn, và có khả năng sinh động rộng lớn hơn trong cả hai thế giới siêu nhiên và tự nhiên.

Đến khi nào, con người trở thành sinh linh của vũ trụ?

- Con người trở thành sinh linh của vũ trụ, khi đạt đến sự hằng sống, tức là sống bằng năng lực tự tạo.

Năng lực này tạo ra sự Sinh, Diệt, cho nên nó không bị chi phối bởi sự Sinh, Diệt.

Trở thành sinh linh của vũ trụ, là con người sống bằng năng lực tự tạo. Và làm chủ được mọi qui luật trong tiểu vũ trụ, chủ động tiến hóa qua sự giác ngộ Thiên lý, và vô tận những cái Lý khác, thuộc 3 thế giới xuất nguồn từ Thiên lý.

Ngoài sự sống này, những tạo vật có hình dáng, dù to hay nhỏ, có sức sống tăng, giảm… đều bị qui luật Sinh, Diệt chi phối để tiến hóa tự động.

Những tạo vật không có hình dáng, chỉ có sự sống, chỉ tăng, tức là chỉ có Sinh mãi mà chẳng Diệt. Sự sống này tăng theo sự toàn diện của 3600 hình tròn, không phải trên mặt bằng.

Sự tăng trưởng của sự sống không có chiều nhất định trong con người, là sự tăng trưởng của sự sống của những bộ phận vô hình như Trí, Siêu Trí, Tuệ v.v…, là những bộ phận không có dịch kỳ.

(Những tạo vật to lớn, nhãn quan con người cho là quan trọng như mặt trời, với Sự Sáng (thể sáng) thì nó là tạo vật của Sự Sáng (sự sống).

Nhưng, nếu mặt trời không có sức nóng kinh khủng và ánh sáng của nó, thì các hành tinh không thể chuyển động được.

Nói cách khác, “sức nóng và ánh sáng của mặt trời là năng lực nguyên thủy của tạo vật đầu tiên làm cho những tạo vật khác và các hành tinh trong thái dương hệ chuyển động.

Nhưng, so với thể sáng (Sự Sáng), nó chỉ là tạo vật được sinh hóa ra từ thể sáng).

Chiều sâu của phương tiện và cứu cánh liên quan đến tự hữu và tư hữu.

“Tư hữu” thuộc về con người, là những phương tiện vô tri, vô giác, tự nó không có sức sống.

Còn những gì “tự hữu” trong con người, thì liên quan đến vũ trụ, đến Tạo hóa.

Như, sự “tự hữu” sẵn có trong Lương Tâm, trong đó tiềm ẩn sự sinh động của Thiên Tánh, Thiên Tuệ. Với con người, từ đó xuất nguồn mọi sáng tạo Thuận Lý.

Tóm lại:

“Những gì “tự hữu” thuộc về sự sáng tạo của vũ trụ, còn “tư hữu” do con người tạo ra, và nó không thể vĩnh cửu tồn tại.

Ai sống bằng sự tự hữu, người đó đang sống bằng Sự Sáng, cũng là đạt đến chiều sâu của cứu cánh vậy”.

Trong cứu cánh, con người vượt qua sự đối đãi, so sánh của những phương tiện, dù đó là những phương tiện hữu hình hay vô hình.

Như:

Ít thua nhiều

Yếu thua mạnh

Nhỏ không bằng to

Ngắn không bằng dài

Giỏi thắng dở v.v…

Còn bản ngã, còn đối đãi, còn so sánh, chỉ có sự “chơn không” là không còn đối đãi, không còn gì để so sánh của chơn ngã (1).

Trạng thái chơn không này không đưa con người vào sự tiêu cực của đời sống, mà “cái Có cũng như không có”, mà “không cũng như có”. Không vướng bận bởi những gì có trong không gian và thời gian của địa cầu, ngay cả trong vũ trụ nữa.

Chính vì vậy, đời sống rất tích cực và hoàn toàn tự do, nhờ vào sự sinh động của Thuần Trí.

Tính đối đãi của những phương tiện liên quan đến hai chức năng sinh hóa và chuyển hóa để tiến hóa.

Sự cảm nghiệm trực tiếp không gì bằng cảm nhận những hiện tượng tâm sinh lý, và trạng thái ngay trong nhục thân, Tâm và trong Trí của chính mình.

Trong sinh hóa thì:

- Cảm khoái sinh ra Lạc, và Lạc sinh ra Cực lạc. Cũng như, cảm giác sinh ra tình cảm; tình cảm sinh ra tư tưởng; tư tưởng sinh ra đức tính, đạo tính. (Tư tưởng bắt đầu từ cõi giới, thế giới tự nhiên, sinh ra đạo tính, liên quan đến cả vũ trụ).

Tất cả những gì liên quan đến cõi giới, thế giới tự nhiên, và siêu nhiên vẫn còn sự đối đãi, chỉ có những gì thuộc về đạo tính, Nguyên lý của vũ trụ mới có sự tuyệt đối, không còn sự đối đãi nữa. (Lý không có sự đối đãi, tất cả mọi hiện tượng, có đối đãi). Như:

Ở Thân: cảm khoái đối đãi với sự đau đớn.

Ở Tâm: vui mừng (khoái lạc) đối đãi với sự khổ tâm.

Ở Trí: cái Lạc của đức tính đối đãi với ác đức tính (2) (sự thống trí).

Ở Tuệ: chỉ có sự cực lạc trong giác ngộ, không còn đối đãi nữa.

Giác ngộ được Nguyên Lý trong sự cực lạc, nhưng nếu chưa thực sự là chơn tu, thì chưa thể làm chủ được tiểu vũ trụ.

Làm chủ được tiểu vũ trụ là làm chủ được luật sinh hóa và chuyển hóa, có nghĩa là làm chủ được cái Lý trong tiểu vũ trụ (Thuận Lý, Chơn Lý và Đạo Lý).

Lý sinh ra Thế. Và Thế sinh ra Lực.

Làm chủ được cái Lý, là siêu thoát. Hay là, con người sống bằng sự siêu thoát, là hoàn toàn sống bằng cái Lý vậy.

Sống bằng Lý, sinh hoạt của một con người bình thường bị biến đổi, thay đổi.

Sống bằng Lý, Trí quan sát hướng vào cõi siêu nhiên và siêu siêu nhiên, sự biết của Trí quan sát không cần đến chức năng của các giác quan nữa. Có nghĩa là các giác quan vẫn mở ra, trong khi con người vẫn tĩnh thức, nhưng sự quan sát của Trí lại quay vào trong, Sự Sáng của Trí tiếp xúc với những bộ phận vô hình và những hoạt động của chúng.

Sức tiến bộ và sự tiến hóa của sự vận dụng các phương tiện trong con người đưa con người vào một vị trí cực cao, là làm chủ được tiểu vũ trụ.

Nhưng làm chủ được tiểu vũ trụ là gì?

- Là làm chủ được ba cõi giới tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên, và luôn cả những sinh linh trong cõi đó.

Những sinh linh này là các loại thân sinh động trong những cõi đó. Chúng là nhục thân, thủy thân, khí thân, điện thân và quang thân.

- Làm chủ được, tức là sử dụng được từng loại thân, những bộ phận và chức năng của nó. Và hơn nữa, có thể làm tăng khả năng của chức năng và của bộ phận.

Cái gì làm chủ được tiểu vũ trụ?

- Tiểu vũ trụ gồm có 3 cõi giới. Và bộ phận làm chủ được 3 cõi giới đó, là Trí, Siêu Trí và Tuệ.

Trí gồm nhiều chức năng, nhưng chức năng nào điều khiển được mọi bộ phận?

Trí thông minh điều khiển được mọi bộ phận của Thân (3).

a. Trí điều khiển được nhục thân.

b. Siêu Trí điều khiển được: thủy thân, khí thân, điện thân.

c. Tuệ điều khiển được quang thân.

Với người chưa dùng được Siêu Trí và Tuệ, nhưng dùng Trí là trí thức.

Người Trí thức là người dùng hầu như không ngưng nghĩ chức năng của Trí.

Nhân tài, chân tài, Thiên tài đều là người có tài năng, nhưng mỗi bậc dùng chức năng của Trí rất khác nhau.

Có nghĩa, tuy cùng dùng Trí, nhưng tính linh hoạt của Trí rất dễ nhận.

- Nhân tài:

a. Dùng Trí nhớ nhiều, Trí quan sát.

b. Dùng Trí suy nghĩ nhiều, qua Trí nhớ và Trí quan sát.

- Chân tài:

Dùng Trí suy nghĩ (và cả Trí nhớ, Trí quan sát), nhưng có đức tính và đức độ trong việc làm.

Tài năng phát triển dựa trên Đức, nên sự nghiệp vững bền.

- Thiên tài:

Dùng cả Tâm và Trí mà suy nghĩ. Chức năng suy nghĩ không ngừng hoạt động, nên lúc nào ánh mắt cũng sáng ngời, tĩnh táo.

Việc làm thấu Tình, đạt Lý. Danh được lưu truyền.

- Thánh nhân: dùng Tánh và Trí thông minh, nên trong lòng An, Vui, bên ngoài minh bạch. Hoặc bên ngoài cũng An, Vui, bên trong sáng suốt.

Trí con người là một phương tiện đưa con người vào cứu cánh cao nhất của loài người, đó là sự hằng sống.

Do đó, ưu thế của con người trên các phương tiện khoa học, nhờ vào Trí.

Các phương tiện khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại… đều là sản phẩm của Trí khôn. Chúng hoạt động được, nhờ vào điện năng, Sự Sáng “nhân tạo”. Những năng lượng này thiếu khả năng, hay không có khả năng tự tạo lấy năng lượng như Trí con người.

Chức năng nào của Trí cũng có khả năng tạo thêm Sự Sáng (thể sáng) cho Trí. Vì vậy, sự thông minh ngày càng tăng, tức là Sự Sáng trong Trí, nhờ sự hoạt động của chức năng, tăng thêm năng lượng.

Thí dụ: Tin học

Ngành khoa học mới, phát triển Trí nhớ, Trí suy nghĩ… có khả năng tiên liệu được sự diễn biến của nhiều hiện tượng, biến cố sẽ xảy ra trong thời gian ngắn (4).

Nhưng, Trí con người có thể thấy trước được nhiều ngàn năm (như tiên tri về sự diễn tiến của số phận của một dân tộc).

Bộ nhớ của Trí con người có khả năng nhớ khoảng vài ngàn năm đến vạn năm, tùy theo cường độ nhân điện của mỗi cá nhân trong sự ấn ký.

Chính vì đó, mà mầm móng của Đức, Phước, Họa… tồn tại lâu qua nhiều kiếp.

Còn bộ nhớ của máy, muốn duy trì sự nhớ, phải thay năng lượng.

Sự tồn tại của năng lượng của con người thật phi thường, kỳ diệu, khi con người ở vào một trạng thái khác, tức là trạng thái linh thiêng của cái chết của nhục thân.

Bộ máy nhân tạo, khi hết năng lượng, nó sẽ tự hoại, nhưng con người chết, lại linh thiêng hơn người đang sống. Vì sao?

- Người chết, nhục thân tan rã. Do đó tâm hồn (Tâm Trí) không còn sự liên quan đến hai hệ Khí, Huyết, đến ngũ khí của ngũ tạng, đến cảm giác của nhục thân…, mà chỉ có linh hồn (Siêu Tâm, Siêu Trí) hoạt động. Hay là, chỉ còn Điện và Sự Sáng tồn tại, sinh động, tức là chỉ có sự linh thiêng sinh động.

Cũng vậy, người sống không tâm trạng (Tâm chơn không: ngũ hành ngưng động), với Thuần Trí (Dương và Âm của Sự Sáng sinh động) trong giấc mộng (hay là trong siêu kiến), linh hồn hoạt động trong điện thân, trong khoảng thời gian đó, bộc lộ ra sự thông minh lạ lùng của Siêu Trí và sức mạnh phi thường của điện thân.

Sự thông minh của Trí được biểu lộ ở mức tỉnh táo, linh hoạt trong khi tỉnh thức. Nó có nhiều mức độ:

- Đầu óc (Trí) mơ màng: “quan sát kém”, “không nhớ” hoặc “không nhớ hết”, “suy nghĩ gián đoạn”.

Mẫu người này thuộc hạng ngu muội, hay đang mê đắm, dù họ có tích lũy nhiều kiến thức, nhưng lại không Trí thức và tri thức.

- Trí tỉnh táo, nhưng không thể dùng hết các chức năng: quan sát tốt, nhớ khá nhiều, chức năng suy nghĩ hoạt động không bền.

- Trí tỉnh táo đầy đủ: quan sát tốt, nhớ nhiều, suy nghĩ được mọi cảm nhận của cảm giác, tình cảm, tư tưởng.

- Trí hoàn toàn tỉnh táo: bốn chức năng của Trí không vướng bận sinh hoạt của Thân, Tâm. Chỉ có Trí thông minh hoạt động, liên quan đến sự, việc.

Ứng dụng không sai lầm: Trí minh mẫn, linh hoạt.

- Trí luôn luôn và hoàn toàn tỉnh táo (5): Trí thông minh “thông Lý”, rõ được sự thật, giải thích, trình bày, thì người nghe tin, và tin tưởng làm theo. Vì những gì họ nghe cũng như đã thấy và hiểu vậy.

Những mức độ tỉnh táo của Trí liên quan đến hiệu quả của những phương tiện và cứu cánh, nhưng làm sao để Trí có thể luôn luôn tỉnh táo?

- Chỉ có một cách là hồi quang, và ở vào trạng thái vô ngã. Vì, nếu đã vô ngã, thì phàm tâm ngưng, Sự Sáng của Trí mới linh thiêng và mầu nhiệm. Nhờ đó con người mới cảm ứng được với các sinh linh.

Nhưng làm sao để biết được mức độ linh thiêng và mầu nhiệm trong con người?

- Cứ cảm nghiệm mức độ tỉnh táo của chính mình, thì biết được. Thông thường, con người đói hoặc khát, tự mình biết rõ. Người Tu, Luyện, sống Đạo… cũng phải biết lúc nào mình tỉnh táo, và khi nào không tỉnh táo, thì đời sống tâm linh mới tiến bộ được.


(1) “Lý” không có đối đãi, “hiện tượng” luôn là nguồn gốc của sự so sánh, đối đãi.

Thuyết Trung Dung ở ngay vào Trung vị, cũng có nghĩa là xóa bỏ đi sự đối đãi, sự dao động của hai hướng cao và thấp…, để tiến hóa trong sự bình an của tâm hồn, và Sự Sáng của các loại Trí nhập vào Thiên Lý (vào Nhất Nguyên). Từ đó tuôn trào ra những Đạo lý, khơi động Lương Tâm con người…

(2) Quỷ tánh dùng ác đức tính, và cảm thấy vui trong đó, vì quỷ không có Lương Tâm, không tình cảm…

Không Lương Tâm, vì nó chối bỏ, hay tách ra khỏi ảnh hưởng của Thiên Lý

Tương tự như đứa con sống hoang đàng, tách ra khỏi sự chăm sóc, quan tâm của gia đình.

(3) Người bình thường không thể điều khiển được những cơ quan và chức năng liên quan đến hệ thần kinh đối giao cảm (hay hệ thần kinh thực vật), nên họ chi phối bởi luật Sinh, Diệt và không thể chủ động tiến hóa được.

(4) Những hiện tượng hiện rõ bên ngoài bằng Thủy, hay Khí, nhưng bên trong, là sự chuyển động của điện dưới dạng những tần số.

Tiên liệu được sự diễn biến của một biến cố dựa trên sức chuyển động của một năng lượng, là sự cảm ứng của nhân điện và điện có trong vũ trụ.

(5) Đây là một trong những yếu tố để truyền và dạy của chân sư.

Sự thông minh luôn gắn liền với Thiên Lý. Và mọi lời nói ra, luôn chính xác để tiến hóa 3 cõi giới người nghe.

Đã sao chép liên kết!