KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào?
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- 1. Sự tiến hóa của sinh linh dưới dạng nhục thân
- 2. Bao giờ một loại thân (khí thân, điện thân, quang thân) mới hoạt động được với khả năng, bản năng của chính nó?
- 3. Sự sinh hóa của sự mầu nhiệm và sự liên quan của sự mầu nhiệm
- a. Mầu nhiệm của sự sinh hóa
- b. Tính cách mầu nhiệm
- c. Sự mầu nhiệm trong những bộ phận vô hình
- 1. Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm hướng dẫn những bộ phận thuộc về phàm tâm
- 2. Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm của con người liên quan đến Thiên Cơ, Thiên Lý
- 3. Hoạt động của những bộ phận vô hình
- 4. Những bộ phận vô hình liên quan đến luật sinh hóa và chuyển hóa, đến giá trị tinh thần, tâm linh
- 5. Hiệu quả của những bộ phận vô hình trong các loại thân nhẹ
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu - chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và trong không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sinh minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- PHƯƠNG TIỆN VÀ CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- 1. Chiều sâu của phương tiện và cứu cánh
- 2. Cấp bậc tiến hóa căn cứ trên phương tiện và cứu cánh
- a. Sự khác biệt về mức linh thiêng và mầu nhiệm giữa giới tính
- b. Cấp bậc tiến hóa căn cứ trên phương tiện
- c. Sinh hoạt và Vận tương quan
- VẬN
- 1. Vận có ưu thế hơn tài năng
- 2. Phước và Họa
- 3. Thời gian xảy ra Phước, Họa. Và thời hạn của nó
- 4. Phước, Họa không phải là những từ trừu tượng, nó là một thực tế liên quan đến những hiện tượng vật lý và sinh lý
- 5. Sự tương quan trong Phước, Họa
- 6. Hóa giải Họa bằng Phước
- 7. Hiệu quả của việc làm từ Phước, Đức, Đạo
- a. Nguồn gốc của Đức tính sinh ra Phước
- b. Bản thể, bản tính của Đức Bi
- c. Tính vĩ đại trong hoạt động tích cực của đức tính
- NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
- A. SỰ TỒN TẠI CÓ THỜI HẠN VÀ VĨNH CỬU
- 1. Ứng dụng mức tiến hóa
- a. Chức năng, bộ phận nào làm cho con người tiến hóa thành sinh linh?
- b. Mức cao của hạnh phúc con người nhờ vào sự ứng dụng mức tiến hóa của hai đời sống tinh thần và tâm linh
- c. Nhưng sự linh thiêng và mầu nhiệm ở đâu trong con người
- d. Dấu hiệu của sự linh thiêng và mầu nhiệm
- e. Linh thiêng và mầu nhiệm trong sự sáng nguyên thủy
- 2. Sự mở rộng trong mức tiến hóa
- a. Làm sao thấy được tiền kiếp
- b. Tiền căn và Nghiệp
- 1. Nghiệp trong dạng Họa, Phước, Đức
- 2. Nghiệp trong dạng Họa, Phước, Đức do tâm hồn sinh hóa
- 3. Tâm Trí thay đổi Phước, Họa liên quan đến Nghiệp
- 4. “Số, sự sống và sức sống’’ liên quan đến Nghiệp
- 5. Trạng thái siêu nhiên trong sinh hoạt
- 6. Năng lực tự nhiên và siêu nhiên, toát ra từ cái chết của nhục thân, sinh động dưới nhiều dạng
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
CHIỀU SÂU CỦA PHƯƠNG TIỆN VÀ CỨU CÁNH
Tùy quan niệm sống của mỗi cá nhân, phương tiện và cứu cánh ở mức tương đối hoặc tuyệt đối. Mức tuyệt đối thuộc về đời sống tâm linh - một đời sống bao gồm cả Nhân sinh quan và Vũ trụ quan, còn mức tương đối ở đời sống tinh thần và vật chất. Nhưng tất cả các loại phương tiện vô hình mà mọi người dễ nhận ra trong sự đối chiếu giữa Đạo và Đời.
Cùng đích của Đạo, là đưa con người đến sự hằng sống, tức là đưa con người thoát khỏi vòng Sinh, Diệt.
Hay là, Đạo lý chỉ, dạy, con người tiến hóa chủ động, nhanh chóng để cho sự sống trở thành năng lực tự tạo, bằng cách sống và sinh hoạt với những bộ phận vô hình và mầu nhiệm (như Tâm Trí, Siêu Trí, Tuệ, Lương Tâm, Tánh của vũ trụ sinh động trong nhân tánh v.v…).
Còn vòng Sinh Diệt là gì?
- Vòng Sinh, Diệt thuộc về sự tiến hóa tự động của tạo vật, kể cả những tạo vật vô hình như Tâm, Trí trong con người.
Như trong “cái Sinh sau”, sức sống và các thể hình thành sức sống đó mạnh và lớn hơn nhiều so với “cái Sinh trước”.
Đối với tạo vật hữu hình, như hột giống, từ một hột giống sinh ra nhiều hột giống khác. Đối với tạo vật vô hình, như tâm hồn (Tâm, Trí) sinh ra linh hồn (Siêu Tâm, Siêu Trí). Nhưng linh hồn mạnh hơn tâm hồn, và có khả năng sinh động rộng lớn hơn trong cả hai thế giới siêu nhiên và tự nhiên.
Đến khi nào, con người trở thành sinh linh của vũ trụ?
- Con người trở thành sinh linh của vũ trụ, khi đạt đến sự hằng sống, tức là sống bằng năng lực tự tạo.
Năng lực này tạo ra sự Sinh, Diệt, cho nên nó không bị chi phối bởi sự Sinh, Diệt.
Trở thành sinh linh của vũ trụ, là con người sống bằng năng lực tự tạo. Và làm chủ được mọi qui luật trong tiểu vũ trụ, chủ động tiến hóa qua sự giác ngộ Thiên lý, và vô tận những cái Lý khác, thuộc 3 thế giới xuất nguồn từ Thiên lý.
Ngoài sự sống này, những tạo vật có hình dáng, dù to hay nhỏ, có sức sống tăng, giảm… đều bị qui luật Sinh, Diệt chi phối để tiến hóa tự động.
Những tạo vật không có hình dáng, chỉ có sự sống, chỉ tăng, tức là chỉ có Sinh mãi mà chẳng Diệt. Sự sống này tăng theo sự toàn diện của 3600 hình tròn, không phải trên mặt bằng.
Sự tăng trưởng của sự sống không có chiều nhất định trong con người, là sự tăng trưởng của sự sống của những bộ phận vô hình như Trí, Siêu Trí, Tuệ v.v…, là những bộ phận không có dịch kỳ.
(Những tạo vật to lớn, nhãn quan con người cho là quan trọng như mặt trời, với Sự Sáng (thể sáng) thì nó là tạo vật của Sự Sáng (sự sống).
Nhưng, nếu mặt trời không có sức nóng kinh khủng và ánh sáng của nó, thì các hành tinh không thể chuyển động được.
Nói cách khác, “sức nóng và ánh sáng của mặt trời là năng lực nguyên thủy của tạo vật đầu tiên làm cho những tạo vật khác và các hành tinh trong thái dương hệ chuyển động.
Nhưng, so với thể sáng (Sự Sáng), nó chỉ là tạo vật được sinh hóa ra từ thể sáng).
Chiều sâu của phương tiện và cứu cánh liên quan đến tự hữu và tư hữu.
“Tư hữu” thuộc về con người, là những phương tiện vô tri, vô giác, tự nó không có sức sống.
Còn những gì “tự hữu” trong con người, thì liên quan đến vũ trụ, đến Tạo hóa.
Như, sự “tự hữu” sẵn có trong Lương Tâm, trong đó tiềm ẩn sự sinh động của Thiên Tánh, Thiên Tuệ. Với con người, từ đó xuất nguồn mọi sáng tạo Thuận Lý.
Tóm lại:
“Những gì “tự hữu” thuộc về sự sáng tạo của vũ trụ, còn “tư hữu” do con người tạo ra, và nó không thể vĩnh cửu tồn tại.
Ai sống bằng sự tự hữu, người đó đang sống bằng Sự Sáng, cũng là đạt đến chiều sâu của cứu cánh vậy”.
Trong cứu cánh, con người vượt qua sự đối đãi, so sánh của những phương tiện, dù đó là những phương tiện hữu hình hay vô hình.
Như:
Ít thua nhiều
Yếu thua mạnh
Nhỏ không bằng to
Ngắn không bằng dài
Giỏi thắng dở v.v…
Còn bản ngã, còn đối đãi, còn so sánh, chỉ có sự “chơn không” là không còn đối đãi, không còn gì để so sánh của chơn ngã (1).
Trạng thái chơn không này không đưa con người vào sự tiêu cực của đời sống, mà “cái Có cũng như không có”, mà “không cũng như có”. Không vướng bận bởi những gì có trong không gian và thời gian của địa cầu, ngay cả trong vũ trụ nữa.
Chính vì vậy, đời sống rất tích cực và hoàn toàn tự do, nhờ vào sự sinh động của Thuần Trí.
Tính đối đãi của những phương tiện liên quan đến hai chức năng sinh hóa và chuyển hóa để tiến hóa.
Sự cảm nghiệm trực tiếp không gì bằng cảm nhận những hiện tượng tâm sinh lý, và trạng thái ngay trong nhục thân, Tâm và trong Trí của chính mình.
Trong sinh hóa thì:
- Cảm khoái sinh ra Lạc, và Lạc sinh ra Cực lạc. Cũng như, cảm giác sinh ra tình cảm; tình cảm sinh ra tư tưởng; tư tưởng sinh ra đức tính, đạo tính. (Tư tưởng bắt đầu từ cõi giới, thế giới tự nhiên, sinh ra đạo tính, liên quan đến cả vũ trụ).
Tất cả những gì liên quan đến cõi giới, thế giới tự nhiên, và siêu nhiên vẫn còn sự đối đãi, chỉ có những gì thuộc về đạo tính, Nguyên lý của vũ trụ mới có sự tuyệt đối, không còn sự đối đãi nữa. (Lý không có sự đối đãi, tất cả mọi hiện tượng, có đối đãi). Như:
Ở Thân: cảm khoái đối đãi với sự đau đớn.
Ở Tâm: vui mừng (khoái lạc) đối đãi với sự khổ tâm.
Ở Trí: cái Lạc của đức tính đối đãi với ác đức tính (2) (sự thống trí).
Ở Tuệ: chỉ có sự cực lạc trong giác ngộ, không còn đối đãi nữa.
Giác ngộ được Nguyên Lý trong sự cực lạc, nhưng nếu chưa thực sự là chơn tu, thì chưa thể làm chủ được tiểu vũ trụ.
Làm chủ được tiểu vũ trụ là làm chủ được luật sinh hóa và chuyển hóa, có nghĩa là làm chủ được cái Lý trong tiểu vũ trụ (Thuận Lý, Chơn Lý và Đạo Lý).
Lý sinh ra Thế. Và Thế sinh ra Lực.
Làm chủ được cái Lý, là siêu thoát. Hay là, con người sống bằng sự siêu thoát, là hoàn toàn sống bằng cái Lý vậy.
Sống bằng Lý, sinh hoạt của một con người bình thường bị biến đổi, thay đổi.
Sống bằng Lý, Trí quan sát hướng vào cõi siêu nhiên và siêu siêu nhiên, sự biết của Trí quan sát không cần đến chức năng của các giác quan nữa. Có nghĩa là các giác quan vẫn mở ra, trong khi con người vẫn tĩnh thức, nhưng sự quan sát của Trí lại quay vào trong, Sự Sáng của Trí tiếp xúc với những bộ phận vô hình và những hoạt động của chúng.
Sức tiến bộ và sự tiến hóa của sự vận dụng các phương tiện trong con người đưa con người vào một vị trí cực cao, là làm chủ được tiểu vũ trụ.
Nhưng làm chủ được tiểu vũ trụ là gì?
- Là làm chủ được ba cõi giới tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên, và luôn cả những sinh linh trong cõi đó.
Những sinh linh này là các loại thân sinh động trong những cõi đó. Chúng là nhục thân, thủy thân, khí thân, điện thân và quang thân.
- Làm chủ được, tức là sử dụng được từng loại thân, những bộ phận và chức năng của nó. Và hơn nữa, có thể làm tăng khả năng của chức năng và của bộ phận.
Cái gì làm chủ được tiểu vũ trụ?
- Tiểu vũ trụ gồm có 3 cõi giới. Và bộ phận làm chủ được 3 cõi giới đó, là Trí, Siêu Trí và Tuệ.
Trí gồm nhiều chức năng, nhưng chức năng nào điều khiển được mọi bộ phận?
Trí thông minh điều khiển được mọi bộ phận của Thân (3).
a. Trí điều khiển được nhục thân.
b. Siêu Trí điều khiển được: thủy thân, khí thân, điện thân.
c. Tuệ điều khiển được quang thân.
Với người chưa dùng được Siêu Trí và Tuệ, nhưng dùng Trí là trí thức.
Người Trí thức là người dùng hầu như không ngưng nghĩ chức năng của Trí.
Nhân tài, chân tài, Thiên tài đều là người có tài năng, nhưng mỗi bậc dùng chức năng của Trí rất khác nhau.
Có nghĩa, tuy cùng dùng Trí, nhưng tính linh hoạt của Trí rất dễ nhận.
- Nhân tài:
a. Dùng Trí nhớ nhiều, Trí quan sát.
b. Dùng Trí suy nghĩ nhiều, qua Trí nhớ và Trí quan sát.
- Chân tài:
Dùng Trí suy nghĩ (và cả Trí nhớ, Trí quan sát), nhưng có đức tính và đức độ trong việc làm.
Tài năng phát triển dựa trên Đức, nên sự nghiệp vững bền.
- Thiên tài:
Dùng cả Tâm và Trí mà suy nghĩ. Chức năng suy nghĩ không ngừng hoạt động, nên lúc nào ánh mắt cũng sáng ngời, tĩnh táo.
Việc làm thấu Tình, đạt Lý. Danh được lưu truyền.
- Thánh nhân: dùng Tánh và Trí thông minh, nên trong lòng An, Vui, bên ngoài minh bạch. Hoặc bên ngoài cũng An, Vui, bên trong sáng suốt.
Trí con người là một phương tiện đưa con người vào cứu cánh cao nhất của loài người, đó là sự hằng sống.
Do đó, ưu thế của con người trên các phương tiện khoa học, nhờ vào Trí.
Các phương tiện khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại… đều là sản phẩm của Trí khôn. Chúng hoạt động được, nhờ vào điện năng, Sự Sáng “nhân tạo”. Những năng lượng này thiếu khả năng, hay không có khả năng tự tạo lấy năng lượng như Trí con người.
Chức năng nào của Trí cũng có khả năng tạo thêm Sự Sáng (thể sáng) cho Trí. Vì vậy, sự thông minh ngày càng tăng, tức là Sự Sáng trong Trí, nhờ sự hoạt động của chức năng, tăng thêm năng lượng.
Thí dụ: Tin học
Ngành khoa học mới, phát triển Trí nhớ, Trí suy nghĩ… có khả năng tiên liệu được sự diễn biến của nhiều hiện tượng, biến cố sẽ xảy ra trong thời gian ngắn (4).
Nhưng, Trí con người có thể thấy trước được nhiều ngàn năm (như tiên tri về sự diễn tiến của số phận của một dân tộc).
Bộ nhớ của Trí con người có khả năng nhớ khoảng vài ngàn năm đến vạn năm, tùy theo cường độ nhân điện của mỗi cá nhân trong sự ấn ký.
Chính vì đó, mà mầm móng của Đức, Phước, Họa… tồn tại lâu qua nhiều kiếp.
Còn bộ nhớ của máy, muốn duy trì sự nhớ, phải thay năng lượng.
Sự tồn tại của năng lượng của con người thật phi thường, kỳ diệu, khi con người ở vào một trạng thái khác, tức là trạng thái linh thiêng của cái chết của nhục thân.
Bộ máy nhân tạo, khi hết năng lượng, nó sẽ tự hoại, nhưng con người chết, lại linh thiêng hơn người đang sống. Vì sao?
- Người chết, nhục thân tan rã. Do đó tâm hồn (Tâm Trí) không còn sự liên quan đến hai hệ Khí, Huyết, đến ngũ khí của ngũ tạng, đến cảm giác của nhục thân…, mà chỉ có linh hồn (Siêu Tâm, Siêu Trí) hoạt động. Hay là, chỉ còn Điện và Sự Sáng tồn tại, sinh động, tức là chỉ có sự linh thiêng sinh động.
Cũng vậy, người sống không tâm trạng (Tâm chơn không: ngũ hành ngưng động), với Thuần Trí (Dương và Âm của Sự Sáng sinh động) trong giấc mộng (hay là trong siêu kiến), linh hồn hoạt động trong điện thân, trong khoảng thời gian đó, bộc lộ ra sự thông minh lạ lùng của Siêu Trí và sức mạnh phi thường của điện thân.
Sự thông minh của Trí được biểu lộ ở mức tỉnh táo, linh hoạt trong khi tỉnh thức. Nó có nhiều mức độ:
- Đầu óc (Trí) mơ màng: “quan sát kém”, “không nhớ” hoặc “không nhớ hết”, “suy nghĩ gián đoạn”.
Mẫu người này thuộc hạng ngu muội, hay đang mê đắm, dù họ có tích lũy nhiều kiến thức, nhưng lại không Trí thức và tri thức.
- Trí tỉnh táo, nhưng không thể dùng hết các chức năng: quan sát tốt, nhớ khá nhiều, chức năng suy nghĩ hoạt động không bền.
- Trí tỉnh táo đầy đủ: quan sát tốt, nhớ nhiều, suy nghĩ được mọi cảm nhận của cảm giác, tình cảm, tư tưởng.
- Trí hoàn toàn tỉnh táo: bốn chức năng của Trí không vướng bận sinh hoạt của Thân, Tâm. Chỉ có Trí thông minh hoạt động, liên quan đến sự, việc.
Ứng dụng không sai lầm: Trí minh mẫn, linh hoạt.
- Trí luôn luôn và hoàn toàn tỉnh táo (5): Trí thông minh “thông Lý”, rõ được sự thật, giải thích, trình bày, thì người nghe tin, và tin tưởng làm theo. Vì những gì họ nghe cũng như đã thấy và hiểu vậy.
Những mức độ tỉnh táo của Trí liên quan đến hiệu quả của những phương tiện và cứu cánh, nhưng làm sao để Trí có thể luôn luôn tỉnh táo?
- Chỉ có một cách là hồi quang, và ở vào trạng thái vô ngã. Vì, nếu đã vô ngã, thì phàm tâm ngưng, Sự Sáng của Trí mới linh thiêng và mầu nhiệm. Nhờ đó con người mới cảm ứng được với các sinh linh.
Nhưng làm sao để biết được mức độ linh thiêng và mầu nhiệm trong con người?
- Cứ cảm nghiệm mức độ tỉnh táo của chính mình, thì biết được. Thông thường, con người đói hoặc khát, tự mình biết rõ. Người Tu, Luyện, sống Đạo… cũng phải biết lúc nào mình tỉnh táo, và khi nào không tỉnh táo, thì đời sống tâm linh mới tiến bộ được.
(1) “Lý” không có đối đãi, “hiện tượng” luôn là nguồn gốc của sự so sánh, đối đãi.
Thuyết Trung Dung ở ngay vào Trung vị, cũng có nghĩa là xóa bỏ đi sự đối đãi, sự dao động của hai hướng cao và thấp…, để tiến hóa trong sự bình an của tâm hồn, và Sự Sáng của các loại Trí nhập vào Thiên Lý (vào Nhất Nguyên). Từ đó tuôn trào ra những Đạo lý, khơi động Lương Tâm con người…
(2) Quỷ tánh dùng ác đức tính, và cảm thấy vui trong đó, vì quỷ không có Lương Tâm, không tình cảm…
Không Lương Tâm, vì nó chối bỏ, hay tách ra khỏi ảnh hưởng của Thiên Lý
Tương tự như đứa con sống hoang đàng, tách ra khỏi sự chăm sóc, quan tâm của gia đình.
(3) Người bình thường không thể điều khiển được những cơ quan và chức năng liên quan đến hệ thần kinh đối giao cảm (hay hệ thần kinh thực vật), nên họ chi phối bởi luật Sinh, Diệt và không thể chủ động tiến hóa được.
(4) Những hiện tượng hiện rõ bên ngoài bằng Thủy, hay Khí, nhưng bên trong, là sự chuyển động của điện dưới dạng những tần số.
Tiên liệu được sự diễn biến của một biến cố dựa trên sức chuyển động của một năng lượng, là sự cảm ứng của nhân điện và điện có trong vũ trụ.
(5) Đây là một trong những yếu tố để truyền và dạy của chân sư.
Sự thông minh luôn gắn liền với Thiên Lý. Và mọi lời nói ra, luôn chính xác để tiến hóa 3 cõi giới người nghe.
