KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

GIÁC QUAN TRONG SỰ PHÁT TRIỂN VÀ TIẾN HÓA

Năm giác quan của con người dùng để làm gì?

- Năm giác quan được dùng để phát triển thân thể và tiến hóa Tâm Trí con người.

- Ba giác quan ở vị trí thấp của đầu (thuộc về da, miệng, mũi) dùng để phát triển Thân.

- Hai giác quan ở vị trí cao (tai, mắt) là hai phương tiện quan trọng cho sự phát triển và tiến hóa Tâm Trí.

Hai giác quan này có chức năng chuyển hóa năng lượng, làm cho những bộ phận vô hình trong não tăng trưởng khả năng của chúng bằng cách nghe, thấy (1), biết, hiểu…, qua sự châu biến của nhân điện và Sự Sáng trong thế giới siêu nhiên và siêu siêu nhiên.

[(Bản thể của Tâm là sự phức hợp của 3 thể linh thiêng là Khí, Điện và Sự Sáng. Nhờ đó mà các trực giác quan có thể khởi động được, khi Khí (tình cảm ngưng động) ngưng động, như ngủ hay Tâm chơn không, thì trực giác quan hoạt động.

Trực giác quan bắt đầu hoạt động, chúng khơi động Siêu Trí.

Ngược lại, Siêu Trí hoạt động do các trực giác quan khởi động. Trực giác quan hoạt động nhờ ở nhân điện và Sự Sáng sinh động, khi Khí của ngũ tạng ngưng động, hay là “Tâm không có tâm trạng, tình cảm dao động”.

Bản thể của Trí là Điện và Sự Sáng. Điện thuộc về cõi giới siêu nhiên. Ở Trí, chức năng của nó là bộ nhớ (bộ phận nhớ. “Nhớ”, là sự rung động của tần số được ghi, giữ lại trong một bộ phận của Trí).

Bộ phận này ghi, giữ lại những hình ảnh, tư tưởng, bằng sự rung động của tần số của nhân điện, mà sự dao động của cường độ nhân điện, tùy theo mỗi cá nhân, có thể tồn tại trên dưới mười ngàn năm, từ 8640 năm đến 1 vạn năm (2).

Trí là sự phức hợp và hoạt động của Điện và Sự Sáng.

Khi Điện ngưng hoạt động, thì chỉ còn lại Sự Sáng sinh động. Tương quan, khi bộ nhớ ngưng hoạt động, thì Tuệ bắt đầu hoạt động)].

Mỗi loại giác quan liên quan đến cõi giới tương quan. Ba loại hoạt động ở mỗi cõi giới tương quan.

Cõi giới hữu hình, siêu hình và siêu siêu hình cũng còn cảnh, còn hình, còn giới hạn, vẫn còn trong sinh hoạt, hoạt động của các loại giác quan, còn trong cái Biết.

Các loại giác quan và cõi giới tương quan:

Hữu hình } → ngũ giác quan

Siêu hình } → trực giác quan

Siêu siêu hình } → linh giác quan

Tất cả các cảnh giới (cõi giới) không bằng “vô cảnh, vô hình của Hư vô”. Chỉ còn lại thể sáng (Sự Sáng) duy nhất sinh động, cho nên chỉ có sự Hiểu sinh động mà thôi.

Nói cách khác, giác quan còn hoạt động, Trí khôn còn trong lãnh vực “Biết”.

- Ngũ giác quan hoạt động, còn Biết.

- Ba trực giác quan hoạt động, vẫn còn trong lãnh vực Biết.

- Linh giác quan hoạt động (Toàn kiến: sự thấy toàn diện của 3600), vẫn còn Biết.

Khi 9 giác quan hoàn toàn ngưng hoạt động, Sự Sáng (thể sáng) của các loại Trí (Siêu Trí, Siêu Siêu Trí) mới “Hiểu tức thì” mà không cần đến Biết. Từ thường gọi sự “Hiểu tức thì” mà không qua chức năng Biết, là Toàn Tri.

Toàn Tri là Trí nhập vào Nguyên Lý, lúc đó chỉ còn lại một chức năng duy nhất là “Hiểu liên lũy” mà thôi.

Sinh hoạt trong đời sống con người bao gồm nhiều chức năng của Thân, Tâm, Trí. Nhưng “Hiểu mãi mãi” mà không cần đến Biết, đến sự cảm nhận… là chức năng cuối cùng của mọi chức năng.

Đây là mức tiến hóa cuối cùng của con người, chỉ nhờ ở Trí (các loại) qua phương tiện các giác quan.

Từ giác quan đến sự Biết và Hiểu của Trí còn phải cần đến một bộ phận trung gian dẫn truyền những tín hiệu. Đó là tủy sống và tủy não.

Tủy sống và tủy não đối với chức năng Biết và Hiểu của Trí như thế nào?

- Tủy sống không có khả năng để Hiểu, mà chỉ truyền dẫn cái Biết về não.

- Tủy não từ sự cảm nhận cái Biết, mới chuyển sang Hiểu.

Tốc độ truyền dẫn các tín hiệu cực nhanh, nhưng vẫn có sự khác biệt về tốc độ của Cảm, Biết, Hiểu.

- Cảm, Biết bằng tốc độ từ thấp lên cao: - Huyết, Khí, Điện.

- Khí, Điện.

- Điện.

Nhưng, Hiểu thì bằng tốc độ của Sự Sáng của Trí.

Còn giác ngộ, bằng tốc độ của Sự Sáng của vũ trụ.


(1) Nghe, Thấy: hai chức năng có khả năng tiến hóa Tâm, Trí. Tầm cỡ “Thấy” xa, và rộng lớn hơn “Nghe”.

Khả năng này nhờ vào loại năng lực mạnh là Sự Sáng và Điện. Cường độ của năng lực càng mạnh tầm cỡ Nghe và Thấy càng xa, mở rộng vào các thế giới khác. Muốn tăng cường độ của nội lực, phải có phương pháp để luyện, tập.

(2) “Nghiệp”, “Nhân quả” đều do bộ nhớ được lưu giữ ngắn hay lâu đều do sự chấn động của nhân điện tức là cường độ của nhân điện trong sinh hoạt, hành động của thời gian đó.

“Nhân quả” là qui luật vật lý của động lực và phản lực. Nó cũng do cường độ của nhân điện mà Nghiệp quả được tái hiện.

Đã sao chép liên kết!