KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- Sự mầu nhiệm
- Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu: chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- a. Người bình thường
- b. Người Trí
- c. Người tiến hóa
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- a. Khí kém do hao tán
- b. Khí vượng
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- a. Khí hao
- b. Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sự minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
HIỆU QUẢ CỦA TÍNH SIÊU NHIÊN TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- Thường nhân sống bằng bản ngã, Trí khôn lệ thuộc vào tình cảm và tư tưởng cá nhân, đời sống nội tâm là nguồn gốc phát sinh phiền não. Nhưng với đời sống tinh thần, đời sống nội tâm sinh động từ sự chơn chính của chơn Tâm, chơn Trí tạo ra sự An, Vui trong tâm hồn với một nội cảnh phong phú, sung mãn, phóng khoáng, tự do, tự toại.
Đời sống nội tâm từ sự chơn chính là sự sinh động của đức tính, và tính thường xuyên của nó mới tạo nên hạnh phúc của nội tâm được.
Đức tính sinh động, lan tràn đến nhiều nơi trong con người, cả Thân, Tâm, Trí, là 3 cõi giới đều cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thoát. Đó là lòng được vui thích, tâm hồn, Trí khôn đều sung sướng.
Cuộc sống nội tâm của đời sống tinh thần thuần túy là một hạnh phúc thật, không một diễn biến phiền não. Nó tràn đầy những vẻ đẹp, điều hay, tốt lành; phóng khoáng cho ra những điều mình có, không lo lắng sự chia xẻ, vì chẳng vị kỷ, nên ích kỷ tiêu tan, không bị ngoại cảnh, sự, việc bên ngoài ràng buộc.
Đời sống này không thuộc về nhân tài, mà nó thuộc về của chơn tài. Hay là đức tính tạo nên chơn tài năng. Ta cũng có thể nhận ra điều này ở con người có Đức, có Đức ắt có chơn tài. Nếu tài năng chưa được, hay chưa có cơ hội để biểu hiện ra, thì lòng nhân hậu, yêu thương tha nhân vẫn luôn sinh động, hiện hữu trong sinh hoạt của đời sống.
Vì sao đức tính có thể đổi thay đời sống từ một cõi giới này sang một cõi giới khác?
- Mọi sự đổi thay trong dạng hữu hình, siêu hình hay vô hình không thể tự nó đổi thay được. Cũng vậy, mọi sự biến thể, biến tướng, biến thái phải có một lực xúc tác nó mới chuyển đổi được.
Như vậy, sự đổi thay từ một cõi giới này sang một cõi giới khác do đức tính cũng không ra ngoài qui luật này.
Đức tính không phải là một từ trừu tượng, nó là một năng lực vô hình thuộc năng lượng tiên thiên (Điện và thể sáng của vũ trụ).
Sự sinh động của nó khơi động các trực giác quan (thị, thính và khứu giác quan). Các trực giác quan này trở nên linh hoạt hơn, khi Tâm và Trí đều trong trạng thái chơn không.
Trong trạng thái chơn không này, khi đức tính hoạt động với cường độ cao, thì sự sáng suốt của Trí và Siêu Trí tăng lên.
Thể sáng trong sự sáng suốt của Trí và Siêu Trí là một huyền lực. Khi nào sự sáng suốt của hai loại Trí này tăng lên, thì huyền lực này cũng tăng lên.
Huyền lực không thuộc về Khí, Huyết tức là nó không phải là Tinh lực và Khí lực. Nó do Tâm và Trí tạo nên, mà bản chất của nó là Điện và Sự Sáng. Hai thể này sinh động trên địa cầu và cả trong vũ trụ.
Sự sinh động của huyền lực trở nên rộng lớn, thì đức tính và ảnh hưởng của nó cũng lan tỏa vào cả hai thể linh thiêng của vũ trụ là Điện và Sự Sáng có trong vũ trụ.
Như vậy, đời sống tinh thần không còn giới hạn ở thế giới và cõi giới tự nhiên, nó bao gồm cả 2 thế giới và cõi giới tự nhiên và siêu nhiên.
Sự đổi thay trong đời sống con người có tính cách mở rộng sự sinh hoạt, hoạt động của cả 3 cõi giới (Thân, Tâm, Trí), nhưng chơn Tâm, chơn Trí chủ động điều khiển cuộc sống, tức là những gì thuộc về siêu nhiên chủ động kiểm soát và điều khiển những gì thuộc về tự nhiên.
Hay là, tính linh thiêng trong đời sống tinh thần điều khiển những gì kỳ diệu trong nhục thân để hướng thượng và thăng hoa thêm sự kỳ diệu sẵn có trong đời sống con người.
Ứng dụng vào sự tiến hóa của cá nhân và xã hội, là dùng đức tính để thăng hoa cảm giác và tình cảm vào thuần phong mỹ tục, Luân lý và Thuận lý. Hay là, dùng đức tính trong sinh hoạt để chế ngự hay xóa bỏ thú tính trong cảm giác, sự nặng nề, thô bạo trong tình cảm thiếu tính nhẹ nhàng của những người sống bằng đời sống vật chất.
Sự tiến hóa nhanh trong đời sống tinh thần.
Sự chơn chính trong đời sống tinh thần giúp cho con người tiến hóa nhanh nhờ vào ứng dụng đức tính trong mọi sinh hoạt, hành động.
Đức tính càng sinh động, thì Siêu Trí càng tiến bộ, tiến hóa. Nhưng tiến hóa là cứu cánh của một sinh linh, còn tiến bộ là nhu cầu của cá nhân trong đời sống xã hội.
Tiến hóa của Siêu Trí nhờ vào chức năng mầu nhiệm tương đồng với chức năng của vũ trụ là sinh hóa và chuyển hóa đồng bộ.
Sinh hóa và chuyển hóa của đức tính và Siêu Trí xảy ra như sau:
Đức tính khơi động các trực giác quan làm tăng sự sáng suốt của Siêu Trí. Và ngược lại, Siêu Trí sinh hóa ra đức tính.
Tương tự như Trí suy nghĩ của cá nhân tạo ra tư tưởng, đồng thời tư tưởng làm tăng thêm thể sáng và sự sáng suốt cho Trí khôn.
Như vậy, con người càng suy nghĩ nhiều, càng thông minh; và luôn dùng nhiều đức tính, thì Siêu Trí càng tiến hóa, tiến bộ.
(Sự đồng bộ sinh động trong chức năng sinh hóa và chuyển hóa có tính mầu nhiệm và linh thiêng trong đó.
Những bộ phận, cơ quan vô hình và mầu nhiệm sẵn có trong con người, muốn sáng tạo, con người không thể tạo ra những tạo vật được kết hợp bằng những chất liệu vô tri, vô giác, để có được tính linh thiêng và mầu nhiệm trong đó.
Tạo vật nhân tạo chỉ chứng minh được sự kỳ diệu của Trí khôn con người trong những cấu trúc của chúng mà thôi, nhưng hoàn toàn không có sự linh thiêng và mầu nhiệm).
Sự tiến hóa nhanh trong đời sống tinh thần do chức năng suy nghĩ của Trí suy nghĩ mang tính cách vật lý. Đó là sự tăng trưởng của Sự Sáng (thể sáng) từ sự hoạt động của chức năng suy nghĩ. Nhưng trong đó, nó không biểu hiện được sự công chính trong mức tiến hóa, khi Trí khôn con người còn dựa trên bản ngã.
Sự chơn chính trong sự tiến hóa của đời sống tinh thần phải toát ra từ sự sinh động của Lương Tâm của một chơn ngã. Nó khơi động Trí suy nghĩ con người từ Thiên Lý tiềm ẩn sinh động, khi bản ngã con người không còn chủ động.
Lương Tâm là bộ phận, cơ quan vô hình, Thiên Lý trong Lương Tâm cũng vậy. Nó tác động khi Trí trong trạng thái hư không (chơn Trí), không vương vấn những hình ảnh của cảm giác, dục cảm, khoái cảm, tình cảm và tư tưởng cá nhân.
Những hình ảnh hữu hình và siêu hình đó che lấp Lương Tâm, làm ngăn ngại sự sinh động, sự cảm ứng của sự linh thiêng và mầu nhiệm với vũ trụ.
Nếu Lương Tâm sinh động, thì sự linh thiêng và mầu nhiệm sinh động, tăng trưởng trong đời sống tinh thần.
(Lương Tâm bị Danh, Lợi, Tài, Sắc che lấp, nhưng nó không bị che lấp mãi. Có lúc con người thấy rõ lại tham vọng của mình. Lúc đó Lương Tâm hoạt động, thì phản động lực của tham vọng, của tội ác quật khởi, khiến cho Trí trở nên sáng suốt.
Cho nên, người biết ăn năn, hối hận làm cho Trí sáng suốt, còn sự thống hối làm cho Tâm trở nên Thiện).
Mức tiến hóa của Trí từ hoạt động của Lương Tâm như thế nào?
- Lương Tâm chứa đựng Thiên Lý, nhưng tùy theo sự phát triển, tiến hóa của Trí, mà con người khám phá, phát hiện được Đạo lý, Chơn lý và Thuận lý.
Trí rõ được Thuận lý.
Siêu Trí hiểu được Chơn lý.
Tuệ rõ được Đạo lý.
(Loài thú cũng có Trí, nhưng là Trí nhớ. Chúng không có Trí suy luận, nên không hiểu được Lý. Chúng sống bằng cảm giác thuần túy không có sự can dự của Tâm và Trí.
Đối với con người, cảm giác là bức màn vô hình che lấp sự xuất hiện của Lương Tâm.
Người có Trí, không thông được Thuận lý, không có Lương Tâm trong việc làm, thì việc làm của họ rất dữ, thâm độc và đại ác).
Sự chơn chính ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống?
- Lương Tâm chứa đựng Thiên lý và sự chơn chính trong đó ảnh hưởng đến sự toàn diện của sinh hoạt con người.
Sự chơn chính xuất nguồn từ Lương Tâm lan tỏa ra cả ba cõi giới (Thân, Tâm, Trí) và ảnh hưởng đến chúng.
Sự chơn chính ở nhục thân thì có sự chơn chính trong cảm giác. Cảm giác đó đúng với Luân lý, Thuận lý.
Sự chơn chính ở Tâm, thì trong tình cảm có sự chơn chính, từ đó trở nên đức tính.
Sự chơn chính ở Trí, thì tư tưởng toát ra từ Lý, tồn tại mãi do giá trị tuyệt đối của nó.
Sự chơn chính trong tâm hồn (Tâm Trí) là nền tảng của chơn tài năng. Nếu được phát triển, nhiều ngành nghệ thuật được phát sinh. Và những tác phẩm được tồn tại do giá trị chơn chính trong đó vượt thời gian.
Từ đời sống tinh thần, nếu sự chơn chính được sinh động liên lũy từ Lương Tâm, tất có đạo nhân xuất hiện.
(“Nhân đạo” phát sinh, hay là Đạo do con người biết và hiểu qua Lương Tâm con người, không phải từ Thiên Tuệ trực tiếp mặc khải).