KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

NHỮNG NHÂN TỐ HOẠT ĐỘNG TRONG TÂM LINH

Để có được sức sống và sống trên địa cầu, con người được tạo nên từ những năng lực tiên thiên và hậu thiên của vũ trụ, và cả trên địa cầu, theo luật sinh hóa. Và để tiến hóa đến mức cuối cùng, con người phải chuyển hóa qua những đời sống từ vật chất, tinh thần, đến tâm linh.

Sự sinh hóa từ tính chất siêu siêu nhiên sinh ra tính chất siêu nhiên và tự nhiên. Hay là từ sự mầu nhiệm trong thể sáng (Sự Sáng) sinh hóa ra sự linh thiêng, và linh thiêng sinh hóa ra sự kỳ diệu.

Ngược lại, chuyển hóa, tiến hóa, thì từ sự kỳ diệu chuyển sang đời sống linh thiêng và mầu nhiệm.

Đời sống linh thiêng liên quan đến mộng, tiên cảm, siêu thị kiến… Những sinh hoạt, hiện tượng, cảnh chứng trong mộng, thị kiến là những sinh hoạt của khí thân, điện thân được định hình trước để chứng thực sinh hoạt của nhục thân sẽ phải trải qua trong tương lai, hay đã xảy ra trong quá khứ (trong tiền kiếp).

Đời sống tâm linh liên quan đến siêu thị kiến, mặc khải…

Những sinh hoạt, hiện tượng, cảnh chứng trong siêu thị kiến là sinh hoạt của quang thân được tượng hình trước để chứng kiến, chứng thực sinh hoạt của điện thân sẽ phải trải qua sau khi nhục thân chết .

Đạt đến mức tiến hóa này, sinh hoạt của con người luôn luôn linh thiêng và mầu nhiệm.

- Tính chất của thế giới siêu siêu nhiên: mầu nhiệm

- Tính chất của thế giới siêu nhiên: linh thiêng

- Tính chất của thế giới tự nhiên: kỳ diệu

Nếu con người dùng những phương tiện của Thân, mà Tâm, Trí không còn liên quan đến Thân, thì sinh hoạt đó linh thiêng và mầu nhiệm.

Hay là, “Tâm Trí mà ở vào trạng thái chơn không, thì Tâm Trí đều linh thiêng và mầu nhiệm”.

Sự kỳ diệu, linh thiêng và mầu nhiệm có theo một qui luật vật lý nào không?

- Tất cả những gì sinh động, dù dưới dạng nào (hữu hình, siêu hình, vô hình), đều có qui luật vật lý. Ba yếu tố này tồn tại, hằng hữu do sự sinh động vô tận của Sự Sáng với sự xúc tác của Thiên Tuệ trong đó.

Hay là, những qui luật vật lý trong vũ trụ sinh động trong Sự Sáng được tác động từ Thiên Tuệ. Tính sinh hóa và chuyển hóa của huyền năng, huyền lực, thần lực (Sự Sáng, Điện, Khí) vượt qua sự cảm nhận của giác quan, do đó Trí thường không hiểu nổi.

Như sự Thiện, Ác… do tư tưởng, tâm trạng con người nẩy sinh. Chúng là huyền lực cũng sinh hóa, cũng chuyển hóa theo qui luật vật lý, tức là từ Sự Sáng sinh hóa ra Điện (với tính chất thanh, trược, độc), ra Khí, Thủy (thanh, trược, độc). Từ đó, chúng kết thành Phước, Họa, May, rủi…

Vì vậy, Phước, Họa ngày nay xảy ra đều có nguyên nhân từ trước. Ngay cả đến sự tiến hóa trong đời sống tâm linh cũng vậy.

Nếu ai biết đời sống con người là một sự tiến hóa và hiểu được điều đó là một Thiên Ân, thì người đó sẽ trở nên siêu việt.

Tính siêu việt này xuất nguồn từ Thiên Lý, Thiên Tuệ trong sự tiến hóa, và Thiên Tánh trong Thiên Ân tiềm ẩn trong sự tiến hóa. Đời sống con người thụ đắc qua sự học hỏi là những sinh hoạt của tiên cảm, linh cảm, tiên tri… Chúng liên quan đến những nhân tố hoạt động trong tâm linh.

Những sinh hoạt của tiên cảm, linh cảm, tiên tri trong tâm linh đưa con người gần gũi với sinh linh trong thế giới siêu nhiên và siêu siêu nhiên.

Nhờ vào đời sống này, sự cảm ứng dưới dạng mặc khải mới xảy ra.

Đời sống chỉ sinh hoạt bằng Lý và Trí, tư tưởng xuất sinh từ Lý thuộc về vũ trụ và những gì thuộc về thân, Tâm… chẳng làm cho Trí bị rung động.

Sinh hoạt bằng Lý, Trí, con người thoát khỏi tính tương đối trong đời sống. Hay là, khi sinh hoạt của con người không dính dáng đến tính tương đối của không gian và thời gian, thì Trí của người đó đã hòa nhập vào sự tuyệt đối, tức là Trí của người đó cũng là vũ trụ, hay là Sự Sáng của Trí đang sinh động trong thực tại của vũ trụ, mà không còn sự cảm nhận của giác quan về không gian và thời gian của địa cầu.

Thí dụ: Về sự tuyệt đối của không gian.

Ngồi trong một căn phòng nhỏ, hẹp. Đối với người thường, mở mắt nhìn thấy sự nhỏ hẹp của căn phòng. Nếu nhắm mắt lại, Tâm chơn không, mắt chẳng còn thấy không gian đó nữa. Đối với đạo nhân, thì dù cho mắt mở hay nhắm lại…, chỉ thấy Tánh, Trí, Lý sinh động, còn không gian của căn phòng không gây ra tâm trạng.

Khi con người sinh hoạt bằng Lý và Trí, thì Trí độ đã khác với sự vận dụng của Trí người thường. Sự thông minh được tạo nên từ sự sống, sự sáng của tâm linh không cùng một mức độ của Trí thông minh được tạo nên từ sự từng trải, kinh nghiệm của Thân và Tâm.

Như vậy, Trí độ ở mỗi người khác nhau như thế nào?

- Con người, ai cũng có mắt để nhìn, tai để nghe, vậy mà Trí độ khác nhau.

Có người biết được việc, mà không hiểu được ý.

Người khác, biết được việc, hiểu được ý, nhưng chưa thông được “Lý trong ý, Lý của việc”.

Có người biết được việc, hiểu được ý, thông được Lý bên trong.

“Biết được việc, hiểu được ý, thông được Lý” là người thông minh, nhưng chưa hẳn là người tài. Vì còn phải có cách giải quyết được việc nữa, và người tài phải giải quyết được việc bằng sự thông minh.

Sự thông minh này có trong sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan không cần đến kinh nghiệm, từng trãi, thì thuộc về sự sống, Sự Sáng, Thiên Tuệ… nên chẳng cần đến tuổi già cũng đã khôn rồi. Các thiên tài có sự khôn ngoan từ tuổi trẻ.

Để tăng thêm sự khôn ngoan, thiên tài học thêm ở đâu?

- Học ở Đạo lý, ở Lương Tâm. Hiểu và thực hành sự khôn ngoan từ Đạo lý, Lương Tâm, thì không cần phải trải qua kinh nghiệm.

Vì vậy, mà người trẻ nhờ vào đó mà vượt qua sự khôn ngoan của người lớn tuổi, vì họ phải trải qua kinh nghiệm trong cuộc đời.

“Lương Tâm con người là kho tàng của Đạo lý”, thiên tài học và làm theo bằng đức tính và đạo tính trong đó.

Người thường học những kinh nghiệm từ loài người, từ sinh vật và làm theo bằng cảm tính cá nhân mình.

Dù cho con người có Trí thông minh, nhưng mức độ thông minh khác nhau như thế nào?

- Trí thông minh thông suốt được cái Lý tự nhiên, nhưng Siêu Trí mới thông được cái Lý siêu nhiên.

Trí thông minh thuộc về tâm hồn, đôi khi cũng còn liên quan đến sự rung động của ngũ tạng khí, nên sinh ra mệt mỏi cho Trí.

Nhưng Siêu Trí thuộc về linh hồn, tất cả đều dồn về não. Khi Siêu Trí hoạt động, thì thân thể không hề mệt mỏi, trái lại nội khí rất nhẹ nhàng, siêu thoát.

Hay là, khi linh hồn hoạt động, thì Trí rất sáng suốt, còn nhục thân được nhẹ nhàng, vì sự chuyển động của khí, huyết trở nên tự động. Và mọi việc ứng xử của Trí rất tinh anh, linh hoạt và phi thường.

Việc ứng xử này được chứng minh ở người có biện tài.

Do đâu mà con người có tài biện luận lưu loát?

- Do nơi sự sinh động không ngừng của Sự Sáng của Trí và nơi chức năng của Trí hoạt động có hệ thống. Hay là các chức năng của Trí quan sát, Trí nhớ, Trí suy nhĩ, Trí thông minh đều sinh động ở bên trong mà không bị ảnh hưởng của ngoại cảnh; những chức năng này hoàn toàn hoạt động một cách tự do ở bên trong, mà không bị ngoại cảnh chi phối.

Trí hoạt động có hệ thống để biện luận lưu loát phải khởi đầu từ Trí thông minh, đến Trí suy nghĩ, Trí nhớ, và sau cùng là Trí quan sát.

Trí thông minh: tìm ra cái Lý – Tìm ra Lý, thì minh Lý, tức là rõ được cái Lý phải trình bày, hay là vấn đề cốt lõi được nói ra.

Trí suy nghĩ: minh chứng, biện luận, dẫn chứng tuần tự.

Trí nhớ: nhớ đến những từ phải dùng trong minh chứng, biện luận, dẫn chứng với ý nghĩa chính xác của nó.

Trí quan sát: quan sát âm thanh trong mỗi từ được nói ra. Quan sát thời gian của mỗi câu, mỗi ý được nói ra.

Từ những biểu hiện bên ngoài nào cho thấy người có biện tài là một thiên tài?

- Đặc thù của thiên tài trong biện luận, ứng xử là:

+ Không còn bản ngã

+ Luôn luôn minh triết ở Lý trong mọi sự, việc. Lời nói ra sâu sắc ở cái Lý; giãi bày đầy đủ mọi sự, việc như một chuyên đề.

(Với phàm nhân, một tâm trạng nổi lên, Trí bất minh. Trong ngôn từ, biện lẽ nhiều hơn là biện Lý; một cái Lý thông thường không nói được, làm sao có thể nói đến Thuận lý, Chơn lý và Đạo lý được.

Biện lẽ đưa đến tranh chấp giữa người với người. Biện lý tiến hóa được tâm hồn con người).

Đã sao chép liên kết!