KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

SỰ TÁN TỤ CỦA THẦN

Đối với người thường, Thần tán nhanh, nhưng tụ lại rất chậm, bởi vì họ không làm chủ được Thân, Tâm, Trí.

Với người làm chủ được 3 cõi giới, thì Thần không tán, nhưng tụ lại rất nhanh.

Về đêm Thần tụ, có mộng.

Thần tụ, nhịp tim cực nhẹ, Thần lực tụ về não. Và “Thần lực” chuyển hóa từ Khí Huyết sang nhân điện, và có hóa thân (thành khí thân, điện thân).

Hóa thân sinh hoạt trong môi trường siêu nhiên, cảm nhận qua trực giác quan, biết và hiểu.

“Mộng” là hiện tượng vật lý siêu nhiên xảy ra trong thế giới, cõi giới siêu nhiên vượt quá khả năng tiếp xúc của nhục thân. Nhưng “mộng” xuất hiện trong khí thân, điện thân. Nhờ đó, mà Trí được tương quan tiến hóa do Siêu Trí hoạt động.

Thần mạnh, mới có mộng.

Thần tán, thì có mơ (hoang mang, sợ).

Nhờ Thần lực tụ, nên Thần mạnh. Sự tụ lực do phương pháp được ứng dụng hay do sinh hoạt để tạo Thần lực.

Tụ lực:

- Bằng cách “chơn không hóa” Tâm; với nhục thân, thở hít cực nhẹ và sâu ở hạ tiêu.

- “Chơn không hóa” Trí: Thần lực tụ về não bộ, tức là sự sống từ những sức sống tụ về não và sinh động.

- Dùng linh hồn tin vào đối tượng vô hình. (Hiện tượng vật lý: vì là vô hình, cho nên Sự Sáng của Trí sinh động trong não bộ, và không tỏa ra bên ngoài, Sự Sáng sinh động, “Thần lực” tụ lại).

- Cuối cùng, Tâm Trí ngưng động, “Thần” mới xuất hiện.

“Thần” sinh động, “Lực của Thần” tăng trưởng. Thần lực mạnh thì mắt sáng, tai thông…, trược khí, độc khí không thâm nhập được.

Muốn luyện “Thần lực” phải hồi quang mới luyện được (1). Muốn điều khiển, Tâm, Trí phải chơn không, và điều khiển bằng Siêu ý.

(“Siêu ý” không có tình cảm và cảm giác, thông thường, “ý” do tình cảm khơi động, và từ đó sinh ra ý).

Môi trường và thời gian thích hợp, là nơi và lúc thinh lặng, như trong giấc ngủ vậy.

Trẻ con, nhờ ngủ nhiều mà Thần mạnh dần, người lớn, ngoài giấc ngủ ra, nhờ vào sự sinh động của Tâm Trí trong trạng thái chơn không của phương pháp hồi quang.

Biểu hiện bên ngoài:

- Ánh mắt mênh mang, sâu lắng, có hấp lực hóa giải tâm trạng của tha nhân khi nhìn vào.

- Bên trong hơi thở nhẹ nhàng, điều hòa, chỉ còn lại Thanh khí sinh động. Thanh khí sinh động nhiều: “Họa” được hóa giải; ít: Họa giảm.

Trong đời sống, Thần có thể bị hao tán do bên ngoài (do sinh hoạt), hoặc do bên trong (nội tâm):

- “Thần”, từ 5 giác quan, tỏa ra bên ngoài.

- Thần hao tán do tâm trạng dao động.

Dấu hiệu của sự hao tán do nhịp tim đập không đều (quá nhanh, hoặc có lúc nhanh, lúc chậm, ngưng đập, gián đoạn…, quá mạnh, hoặc quá yếu) làm cho con người hồi hộp.

Tâm trạng làm Thần hao tán do ngũ tạng khí dao động.

(Thần từ 5 giác quan tỏa ra bên ngoài:

Mắt: nhìn vào ánh sáng có sức sáng quá mức, chăm chú nhìn lâu vào một vật gì đó.

Tai: nghe tiếng động mạnh, như tiếng động thường xuyên của động cơ, ồn ào…, hay một tiếng động cực mạnh làm Thần thoát.

Da: những cảm giác quá đau đớn của nhục thân là Thần tán).

Dưỡng Thần

Thần tụ hay tán do bên trong (đời sống nội tâm) và do môi trường sống bên ngoài.

Bên trong: do tâm trạng, Trí trạng, do sự đau nhức quá mức của nhục thân.

Bên ngoài: do môi trường sống, ăn uống.

a. Môi trường sống

Nơi nào có nhiều oxy, máu mau đỏ. Đó là những nơi có thoáng khí (2), cao ráo, nhiều cây, hoa… tiết ra hương thơm.

b. Thức ăn uống

Thức ăn, uống nào cung cấp nhiều oxy đều tốt cho việc dưỡng Thần, càng có nhiều hương thơm nhẹ, càng tốt hơn.

Dưỡng Thần có hai cách:

- Thần tụ một cách tự động.

- Chủ động để tụ Thần.

Thần “tự động” tụ:

- Ngủ, hay nghỉ, với vỏ não ngưng hoạt động.

- Tâm Trí ngưng động: Thần tụ lại trong trạng thái vô tâm trạng.

Chủ động để tụ Thần

- Dùng chơn Trí để điều khiển nội lực.

Lực của Thần thuộc loại nào?

- Thần là lực vô hình được tạo nên từ sự xúc tác của Sự Sáng của Trí vào Thanh Huyết và Thanh Khí.

Nó là chủ lực của nhục thân. Chủ lực yếu, thì nhục thân bệnh, chủ lực mạnh, thì nhục thân khỏe.

Cơ quan chứa đựng chủ lực là tim, và chất chứa đựng chủ lực, là máu đỏ. Dấu hiệu biểu lộ cường độ của chủ lực là nhịp đập của tim. Hay là, cường độ của chủ lực được biểu hiện qua nhịp đập mạnh, yếu, đều hay không đều, nhanh, chậm… của tim.

Thần là chủ lực của Khí, Huyết nhưng bản chất của Thần là gì?

- Điện và Sự Sáng sinh động trong Huyết và Khí. Chủ lực của Khí, Huyết là Điện và Sự Sáng.

Như vậy bản chất của Thần là Điện và Sự Sáng.

Điện và Sự Sáng luôn nối liền với não bộ. Hay là, Thần nối liền với não bộ.

Bình thường, khi con người sinh hoạt ở nhục thân, Thần tỏa ra khắp nhục thân, đặc biệt là các giác quan liên quan trực tiếp với sinh hoạt.

Nhưng khi ngủ, lực của Thần tụ về tim. Và khi nào, lực của Thần không còn tỏa ra nhục thân nữa, thì Thần tụ về não một cách tự động. Và cường độ của Thần được biểu lộ trong giấc chiêm bao qua khí thân với những cảnh và tâm trạng trong đó.

Người ta có thể chủ động đưa Thần về não không?

- Trong thiền định, hành giả điều khiển nhịp tim đập nhẹ lại, qua sự điều hòa hô hấp cực nhẹ đến khi không còn hơi thở ra vào nữa, tim ngưng đập. Lực vô hình của Khí, Huyết là Thần tụ về não. Hành giả cảm nhận nhịp tim đập nhẹ trong đầu, và sau đó ngưng luôn.

Hiện tượng này chứng tỏ lực vô hình trong máu đang sinh động ở đầu. Hay là, chủ lực của Khí, Huyết đã tụ về não, cũng có nghĩa là Điện và Sự Sáng đã tụ về não.

Chúng là “nội lực của chủ lực” tạo nên “nội lực trong máu đỏ”. Và nội lực này được cảm nhận từ lực của nhịp đập của tim.

Tóm lại:

Khi nghe nhịp đập của tim trong đầu, lúc đó Thần đã tụ về não với hai năng lực đang sinh động là Điện và Sự Sáng.

Đến khi nào mới hết nghe nhịp đập của tim trong đầu?

- Khi hiện tượng đó không còn nữa, cũng là khi nhịp đập trong đầu nhẹ dần và không còn nữa, thì lực của Thần đã biến đổi. Có nghĩa là Điện của Thần ngưng, chỉ còn lại Sự Sáng trong Thần hòa nhập vào Sự Sáng của Trí thuần túy.

Trong trạng thái này là tất cả Sự Sáng tiềm ẩn sinh động trong 3 thể (Huyết, Khí, Điện) của nhục thân hoàn toàn tụ về não, không còn bị chi phối bởi sinh hoạt của con người.

Sự Sáng trong 3 thể hòa nhập vào Sự Sáng sẵn có trong Trí sinh động và tăng lực để thành năng lực tự tạo. Nó có cường độ cao hơn Sự Sáng của vũ trụ để bức xạ vào vũ trụ.

Qua sự giải trình những hiện tượng sinh lý mà con người cảm nhận được. Và từ sự cảm nhận đó, thấu hiểu được tiến trình của nội lực, con người có thể chủ động đưa Thần về não bộ.

Nhưng hiệu quả nhanh hay chậm tùy thuộc vào sự điều khiển của cá nhân.

Đối với các loài vật có Thủy (máu, nhựa cây, cỏ…) có khí (thở bằng khí), thì loài nào có Thần mạnh hơn, loài đó có khả năng chế ngự được loài khác.

Chúng hơn nhau ở tầm nhìn xa và nghe xa.

Ở con người làm sao biết được Thần mạnh?

- Nhìn con ngươi.

- Bắt mạch.

- Nghe âm thanh trong lời nói, tư tưởng diễn giải mạch lạc, minh bạch.

- Không quên (Trí nhớ tốt).

- Trí quan sát, Trí nhớ, Trí suy nghĩ đều tốt.

- Chiêm bao, khí thân bay bổng (càng cao, Thần càng mạnh, nhưng vẫn trong bầu khí quyển).

Cao hơn nữa, là điện thân hoạt động với trực giác quan trong Siêu kiến.

Vì sao, lúc nào con người đam mê, hay vướng sắc dục thì Thần yếu?

- Vì lúc đó, tim đập mạnh và mau, hoặc không đều do sự suy nghĩ, Sự Sáng của Trí tỏa ra ngoài, hoặc Tâm có sự rung cảm, có sự dao động mạnh của tâm trạng, thì Thần yếu. Hay là, nội lực của chủ lực của nhục thân, là Sự Sáng và Điện, dao động mạnh, tán tỏa ra ngoài sự thu giữ của chủ lực, thì Thần yếu.

Trái lại, yêu thương không có đối tượng hoặc có đối tượng mà tim không có rung cảm, không đập mạnh, thì những đức tính, đạo tính làm cho Thần mạnh.

Tóm lại:

Tùy theo đối tượng và sinh hoạt của cá nhân mà chúng có thể làm cho Thần yếu hoặc mạnh.

Dùng Thần

Không phải lúc nào con người cũng tùy tiện dùng Thần. Có những sinh hoạt liên quan đến Thân, Tâm hoặc Trí, thì dùng Thần cũng vậy.

- Với đối tượng nào, thì dùng Thần?

- Với trạng thái nào của Tâm, Trí (các loại) mới dùng Thần được?

a. Với các sinh vật, tạo vật có Khí, Thủy mà chúng có ác tính, độc tính, thì con người dùng Thần để chế ngự.

Với các sinh linh, tạo vật, sinh linh bằng khí thân có ác tính, độc tính… thì con người dùng Thần để xua đuổi hoặc để chế ngự chúng.

b. Tâm, Trí đều trong trạng thái chơn không (các chức năng quan sát, nhớ, suy nghĩ của Trí đều chơn không, hay là đều ngưng động), chỉ còn lại sự sáng suốt của Trí khôn…, lúc đó con người mới dùng Thần được. Hay là, chỉ trong trạng thái vô ngã (hoặc chơn ngã), con người mới dùng Thần được.


(1) Hồi quang nhìn vào Thần lực, khi đã cảm nhận được sự sinh động của Thần lực, thì chỉ thấy được sự sinh động đó, và không còn thấy gì liên quan đến nhục thân.

(2) Ngủ, hay sống nơi thiếu oxy, như phòng lạnh, nơi không thoáng khí, quá kín… máu trở nên đen. Cũng như các loài cá, thủy sinh vật, sống dưới nước, ít oxy, nên máu đen.

Đã sao chép liên kết!