KHOA HỌC TÂM LINH

Khám phá sự tuyệt đối nhờ vào tính toàn diện của cả 3 loại khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

HIỆU QUẢ CỦA SINH HOẠT BẰNG LƯƠNG TÂM

Trong con người, bất cứ một bộ phận vô hình nào hoạt động, chúng đều tạo ra hiệu quả. Bộ phận nào có chức năng tiến hóa, khi được vận dụng, đời sống con người sẽ được thăng hoa.

Hiệu quả của sinh hoạt Lương Tâm biểu hiện bên ngoài bằng thái độ, nhân cách… liên quan trực tiếp đến những đức tính bên trong, dễ nhận ra từ diện mạo là sự nghiêm trang.

Tại sao “người sinh hoạt bằng Lương Tâm”, thì nghiêm trang?

- Vì, khi Lương Tâm hoạt động, ngũ tạng khí ngưng dao động. Do đó, chỉ có lực vô hình của chúng sinh động (tức là Hồn, Vía, Thần sinh động), hay là, chỉ còn lại sự sinh động của Dương và Âm của Khí, Huyết mà thôi.

Rõ hơn, là không có tình cảm và cảm giác của cá nhân hoạt động, hay là Thân, Tâm đều chơn không, chỉ còn sự sáng suốt của Trí tỏa ra ánh mắt với trạng thái vô ngã. Sự sống và sức sống dồn vào đầu, não, nên diện mạo mới toát ra sự trang nghiêm được.

Trong sự trang nghiêm, tiềm ẩn chứa nhiều đức tính khác, gọi chung là “Đức”.

Có Đức, ắt được Phước. Có Đức, tất Họa tan. Nhưng tại sao người “thật sự có Đức”, không bị Họa ảnh hưởng?

- Theo vật lý, “Đức” xuất nguồn từ Điện và Sự Sáng sinh động ở đầu người và trong não bộ, có lực mạnh tỏa ra quanh đầu. Người có Đức dù sống và sinh hoạt ở tử địa cũng không bị Họa.

(Nơi chiến trường, hoặc ở những nơi có tử khí, trược khí nhiều, người có Đức lớn cũng thoát hiểm được.

Vì Lực của Khí, Thủy bị Lực của Điện và Sự Sáng ngăn chận. Dưới dạng tốc độ, thì tốc độ của Điện và Sự Sáng nhanh và mạnh hơn).

Người thường luôn sống với sự luân phiên của Phước, Họa. Và tâm tư gắn liền với hai yếu tố này. Đến khi nào, bản ngã xã hội tan biến đi, lúc con người có thể cảm nghiệm được sự mầu nhiệm ở đâu trong con người?

- Nhìn ngược vào trong, mới ý thức được sự mầu nhiệm có trong Lương Tâm. Vì sao?

- Khi Lương Tâm hoạt động, thì sự mầu nhiệm sinh động. Cũng như, khi chức năng suy nghĩ của Trí càng hoạt động, thì Sự Sáng (sự sáng suốt) của Trí thông minh càng gia tăng, càng sinh động.

Ý thức được Lương Tâm hoạt động, là cảm nghiệm được sự sinh động của sự mầu nhiệm.

Cảm nghiệm được sự mầu nhiệm đó, thì cả hai vũ trụ đồng nhất, tức là tiểu vũ trụ đã hòa nhập vào đại vũ trụ, qua sự hợp, và đồng nhất của thể sáng.

Do đó, bản ngã cá nhân tan biến đi ngay lúc đó.

Nhưng, dù vậy, bản ngã vẫn không mất, khi con người trở lại sống với Tâm.

Tâm hồn nhập thế, mà Lương Tâm cũng nhập thế, chỉ có “Tâm chơn không” là xuất thế gian.

“Tâm chơn không” xóa được phiền não cho chính mình, nhưng nó không có sự Thuận Lý để hóa giải được những mâu thuẫn xảy ra trong đời sống.

“Tâm chơn không” đưa con người vào đời sống xuất thế gian.

Còn Lương Tâm, tự nó đã không có sự phiền não, nó đã sẵn có các Lý (Thuận Lý, Chơn Lý, Đạo Lý), tự nó làm mất đi bản ngã, che lấp cá tính của mỗi cá nhân.

Nếu Lý được đem ra dùng, thì mọi mâu thuẫn trong đời phải tan biến.

Lương Tâm đưa con người vào đời sống nhập thế, với tất cả tinh hoa tâm lý, để tiến hóa đời sống tinh thần và tâm linh.

Nếu, luôn sống mãi với Lương Tâm, con người luôn minh triết.

Trí khôn (sự hiểu biết) con người luôn luôn tập trung vào Lương Tâm, cho đến khi nào sự sinh động của Lương Tâm hiện ra ánh mắt bất cứ trong không gian và thời gian nào…, lúc đó con người không còn bản ngã nữa, thì chỉ có Đạo Tâm mà thôi.

Lương Tâm không sai lầm, nên Trí khôn luôn luôn minh triết. Hay ngược lại, “nếu Trí luôn luôn minh triết, thì đời sống đó đã sống bằng Lương Tâm rồi”.

Minh triết là trạng thái của sự hoạt động của Lý và Trí.

Chỉ còn Lý và Trí trong sinh hoạt, con người đã làm chủ được mình.

Thái độ nghiêm trang, lời nói minh bạch, chỉ cần sống luôn như vậy, đời sống đã siêu thoát rồi.

Còn tâm trạng trong sinh hoạt, là còn bản ngã cá nhân, con người chưa làm chủ được mình, và vẫn lặn ngụp trong đời sống phàm tục.

Người làm chủ được mình, thì không còn định kiến, không có sự chủ quan liên quan đến sự việc và vật dụng…, mà chỉ có Lý, Trí trong mọi sinh hoạt, hoàn cảnh.

Người chưa làm chủ được mình chỉ nghe tâm tư của mình và làm theo, dễ đi đến tranh luận, tranh chấp, cãi vã… do tâm địa cố chấp, độc đoán hoặc hẹp hòi thiếu sự thông cảm.

Trái lại, người chịu lắng nghe Lý, Lẽ của người khác mà phân biệt được Đúng sai, Phải trái, Tốt xấu… thì tâm địa được mở rộng, lòng dễ thông cảm, tâm hồn bao dung.

Cũng nghe bên trong, nhưng nghe tiếng nói của Lương Tâm, thì tâm hồn trở nên cao thượng và siêu việt.

Cùng bên trong, nhưng chỉ khác nơi nghe, mà con người có mức tiến hóa khác nhau.

Tiếng nói của Lương Tâm hoàn chỉnh đời sống con người. Hay là, xứng đáng làm con người, nhờ ở Lương Tâm.

Nhờ sống bằng Lương Tâm, con người không còn thú tánh và quỷ tánh.

Thân thể con người không thể sống lâu, phải già yếu, phải chết, nhưng Lương Tâm con người tồn tại mãi mãi khi loài người còn sinh tồn.

Lương Tâm hoàn chỉnh Tâm Trí con người, ngược lại Tâm Trí liên quan đến Lương Tâm. Ở Tâm, thì có tình cảm của loài người (Tình và Tình thương), ở Trí thì có Lý (Thiên lý tiềm ẩn trong Sự Sáng của Trí).

Hay là, Lương Tâm là nơi có Tình và Lý, cũng là nơi hội tụ giữa Trời và Người. Vì vậy, đời sống con người mới được toàn hảo do sự tiến hóa của Thiên Lý vậy.

Trong Thiên Lý đã sẵn có “Đạo, Đức, Phước”, sinh động và ảnh hưởng trong vũ trụ. Chúng sinh động trong sự sinh hóa và chuyển hóa.

Sinh linh được hưởng chúng, như ánh sáng mặt trời cung cấp năng lượng cho tạo vật, nhưng con người không nhận ra được những năng lực vô hình đó.

Nếu biết và nhận ra sự hiện hữu của chúng trong Lương Tâm, thì con người luôn hưởng được Thiên Ân đó.

Những nhân tố đó trong Lương Tâm thanh tẩy được nọc độc của sự cám dỗ, đam mê của tâm hồn và thánh thiện hóa được linh hồn.

Trái lại, nếu chẳng còn Lương Tâm sinh động nữa, thì chẳng còn Thiên Ân, vì con người đó đã không để cho Thiên Tuệ, Thiên Tánh tác động trong Lương Tâm.

Do đó, mà cuộc đời người đó không gặp may mắn, mà chỉ có rủi ro xuất hiện, xảy ra nhiều.

Lương Tâm không sinh động, bản ngã xuất hiện, và cái “Tôi” càng lớn lên.

Cái “Tôi” càng được nhắc đến nhiều, thì tính kiêu ngạo, kiêu căng gia tăng.

Kiêu căng luôn có sự thử thách kèm theo, còn kiêu ngạo trước thiên hạ, cũng có sự thử thách, và kèm theo sự khốn đốn nữa.

Phải chăng, sự thử thách về sự kiêu căng và kiêu ngạo là hình phạt của Thiên Lý?

- Đây không phải là hình phạt, mà là biện pháp giáo hóa con người, qua sự cảm nghiệm từ Lương Tâm, để người đó hiểu được hiệu quả của sự thử thách.

Như vậy, người nào cảm nghiệm được sự sinh động của Lương Tâm mà tiến hóa, thì sự tiến hóa này luôn đúng với Thiên Tánh và Thiên Lý.

Và khi nào, Trí con người hiểu được, có sự hiện hữu của Thiên Tánh và Thiên Lý trong Lương Tâm, thì Trí của người đó mới có thể được mặc khải từ Thiên Tuệ, để trở nên khôn ngoan tức thì.

Sự khôn ngoan này xuất nguồn từ nguồn gốc sáng tạo của Tạo hóa. Vì vậy, mọi sinh hoạt đều là đạo tính cả.

Tư tưởng trong lời nói từ đạo tính đều là danh ngôn. Tại sao?

- Bởi vì nó có giá trị cho muôn đời. Vì nó là sự thật của mọi sự, việc.

Sự, việc thì xảy ra trong một khoảng thời gian, còn sự thật của sự, việc, thì tồn tại mãi.

Nhờ vào danh ngôn, mà người ta biết được sự thật.

Và muốn ứng dụng giá trị của sự thật, con người cần ghi và nhớ danh ngôn.

Hiệu quả của sự thật trong danh ngôn là sự khôn ngoan. Và đó, cũng là một trong những nhân tố trong đạo tính.

Người sống bằng đạo tính, ứng dụng sự khôn ngoan trong sự giải quyết những sự, việc cũng khác thường.

Đối với người khôn ngoan, việc lớn đã xong, thì những việc nhỏ tồn tại tất phải giải quyết được thôi. Thế nhưng, phàm nhân không vui ở cái to tát đã hoàn tất, luôn mãi bực mình ở những chuyện nhỏ, việc nhỏ còn sót lại…

Đã sao chép liên kết!