KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- Sự mầu nhiệm
- Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu: chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- a. Người bình thường
- b. Người Trí
- c. Người tiến hóa
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- a. Khí kém do hao tán
- b. Khí vượng
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- a. Khí hao
- b. Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sự minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
SỰ TÌM KIẾM NGUYÊN NHÂN SINH HÓA
Con người luôn tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa ra mình và quá khứ của mình để đánh giá mức tiến hóa của mỗi thời đại trên những di sản, di tích.
Chúng bị hủy hoại đi phần nào do bàn tay con người, hay bị chôn vùi dưới lòng đất, trong lòng đại dương do những cuộc biến thiên.
Do ngẫu nhiên, do sự khai quật của sự tìm kiếm có tổ chức hay có mục tiêu, con người lưu trữ được một số lớn di sản, di tích. Nhưng quan trọng hơn hết là di vật tồn tại lâu năm của đời sống nhục thân là bộ xương.
Đây là sự chứng thực của con người thấy được mình qua bộ xương bằng giác quan trong thế giới hữu hình.
Một số người nảy ra tư tưởng đi tìm nguyên nhân sinh hóa và thời gian xuất hiện của loài người trên những bộ xương.
Tư tưởng đó rất lạ, nhưng sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa, hay tìm sự sống trong dị vật của cái chết, khó đạt được kết quả. Nếu, thật sự mà nói, công sức, công phu bỏ ra, nhưng không có kết quả.
Xương người là thành tố rắn chắc nhất của nhục thân, nhưng nó không phải là tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh, trong đó có sự linh hoạt của những bộ phận vô hình có sự sống sinh động.
Nhờ vào những bộ phận vô hình có sự sống sinh động mà sự linh hoạt của đời sống tinh thần và tâm linh được duy trì. Hay, ngược lại, sự sinh động của sự sống càng duy trì, hay càng hoạt động được bao lâu, thì sự linh hoạt của đời sống tinh thần và đời sống tâm linh càng kéo dài đến đó.
Xương người còn đó, nhưng nhục thân của người đó đã bị hoại. Nhục thân chứa đựng những tinh hoa của sự sống và sức sống bị hủy hoại, vậy sự sống và sức sống được chứa đựng trong nhục thân biến đi đâu. Hay là, sự chết còn đó, nhưng sự sống và sức sống vô hình toát ra từ nhục thân, sinh động ở đâu.
Sự sống, sức sống dưới dạng năng lượng, năng lực vô hình vẫn còn sinh động, nhưng nhãn quan con người không thể nhận ra trong thế giới siêu nhiên.
Sự sống vô hình không thể tìm ra ở cái chết hữu hình của bộ xương. Sự sống vô hình chỉ được tìm ra ở sự sống, khi sự sống này còn sinh động trong nhục thân, tức là tìm ngay ở con người hiện sống với tất cả sức sống đang hoạt động.
Nguyên nhân sinh hóa không phải là một từ mang tính trừu tượng. Nó là một năng lực có sức sinh hóa, bản chất là Sự Sáng, bản tính là sự sống (sự hằng sống, hằng hữu).
Sự Sáng, sự sống từ nguyên thủy có trong đời sống con người, hay ngược lại, con người có sự sống, Sự Sáng trong bản thân. Chúng cũng đồng bản chất, bản tính, tính năng với Sự Sáng, sự sống của vũ trụ.
Như vậy, nhờ vào Sự Sáng, sự sống mà con người biết được nguyên nhân sinh hóa của mình, và với những tạo vật khác có sự sống và sức sống sinh động.
Tất cả những tạo vật này và con người, cùng có một nguyên nhân sinh hóa.
Tìm thời gian gian xuất hiện của loài người là đi ngược về quá khứ, đi ngược lại thời gian của địa cầu, ngược lại sự diễn tiến của vòng quay của nó, để kiểm soát được những hiện tượng và sự kiện còn được lưu lại trên địa cầu dưới dạng năng lực bằng sự chấn động của điện (1).
(Những chấn động của điện tuy có, nhưng siêu hình, với phương tiện khám phá ra quá khứ và tương lai, con người dùng năng lực siêu nhiên để kiểm soát những hiện tượng, sự kiện… còn tồn tại bằng sự chấn động của điện trong thế giới siêu nhiên.
Sức sống của khí, thủy trong những hiện tượng, sự kiện trong quá khứ bị hủy hoại. Năng lượng toát ra từ hai thể này là những chấn động của điện còn tồn tại sinh động. Từ sự tồn tại này, con người có thể khám phá được những hiện tượng, sự kiện trong quá khứ).
Với những tiến bộ và sự ứng dụng của điện, ngày nay, con người có thể kiểm soát một không gian hữu hình lớn lao, nhưng chưa có thể kiểm soát được thời gian, dù cho thời gian này còn liên quan đến không gian. Như thời gian của địa cầu, quá khứ và tương lai liên hệ đến vòng quay của địa cầu. Đây là sự tương quan của một không gian hữu hình với một thời gian vô hình, trong đó có quá trình và sự diễn tiến của những hiện tượng và sự kiện liên quan đến nhân loại.
Máy móc và phương tiện nhân tạo không có khả năng khám phá ra những gì đã xảy ra và sẽ xảy đến. Nhưng con người, với cấu trúc huyền nhiệm chứa đựng nhiều loại năng lực, có khả năng làm chủ được thời gian, kiểm soát những gì đã xảy ra trong quá khứ, biết trước những điều gì sẽ xảy đến trong tương lai.
Lấy gì để kiểm soát quá khứ và tương lai?
- Kiểm soát về thời gian là một hiện tượng xảy ra của một năng lực cực nhẹ, có một cường độ mạnh ảnh hưởng trên một năng lực nặng hơn, nhưng có cường độ nhẹ hơn. Và năng lực cực nhẹ kiểm soát được những hiện tượng có trong năng lực có cường độ yếu hơn.
Như, Sự Sáng của Trí có khả năng kiểm soát được sự biến, hiện của tư tưởng, của hình ảnh siêu hình trong tư tưởng. Và sự tồn tại của tư tưởng có thể kéo dài đến hàng vạn năm.
Tư tưởng là những chấn động của điện được hiện lên Sự Sáng (thể sáng), tương tự như hình ảnh của phim hiện lên màn bạc.
Nhờ đó, Sự Sáng của Trí có khả năng kiểm soát những hiện tượng, sự kiện đã xảy ra từ thời gian trước bằng những chấn động của điện.
Trường độ của khả năng kiểm soát của Trí cũng là thời gian sinh động của Sự Sáng của Trí (2). Nó kéo dài đến chục vạn năm, dù cho nhục thân đã tan rã, Sự Sáng của Trí vẫn sinh động, nhưng lực sẽ giảm dần.
Sự châu biến của Sự Sáng của Trí (và Tuệ) lan tỏa đến đâu, thì sự hiểu biết, về những hiện tượng, sự kiện bằng những chấn động của điện, cũng tương ứng đến đó.
Nói cách khác, những chấn động của điện trong vòng quay của địa cầu từ vài ngàn năm trước và sau, tính từ hiện tại, bị bao trùm bởi thể sáng (Sự Sáng) của Trí, và bị Trí kiểm soát.
Hay là “Sự Sáng của Trí con người không có yếu tố thời gian, bao trùm lấy thời gian có định hạn gây ra bởi không gian của địa cầu – một không gian trải dài liên tục do sức quay của địa cầu”. Không gian của địa cầu tạo ra thời gian cho nó.
(Những di tích, con người coi là kỳ quan, trong đó ẩn hiện mức tiến hóa của Trí khôn, của Trí suy nghĩ của con người, khám phá ra năm, tháng, ngày, giờ…, dựa theo vòng quay của địa cầu và mùa, tiết theo cách quay của nó… Nhưng vào thời đại đó, những gì còn lưu lại đến ngày nay, không có một vật nào, điều gì… biểu lộ nguyên nhân sinh hóa, hay thời gian xuất hiện của con người trên địa cầu).
Khả năng con người thật phi thường, siêu việt nhờ vào Sự Sáng của Trí.
Sự châu biến của Sự Sáng (sự sống) của Trí bao trùm và có trong mọi tạo vật trên địa cầu. Hay là, sự sống của con người có khả năng bao trùm mọi sức sống, kiểm soát được những sức sống nếu chúng còn khả năng sinh động.
Nếu con người dùng Sự Sáng (sự sống) của mình để kiểm soát những sức sống trong quá khứ và tương lai, tính từ thời điểm này, thì ảnh hưởng của nó chỉ giới hạn trong khoảng một vạn năm.
Mặc dù Sự Sáng của Trí có sức sống hàng chục vạn năm, và của Tuệ, Sự Sáng hằng sống bao trùm mọi không gian, nhưng nó cũng không thể xác định được thời gian xuất hiện của loài người. Vì loài người đã có từ lâu, mà di tích, hiện tượng, sự kiện bằng những chấn động của điện không còn sinh động nữa, hay là sức sống dưới dạng năng lượng không còn sinh động nữa, cho nên Sự Sáng của Trí không còn gì để có thể nhận ra, hay định hạn được những gì đã có từ trước.
Tóm lại, Sự Sáng của Trí, Tuệ con người có thể khám phá ra những gì xảy ra trong quá khứ, nhưng những sức sống của con người trong quá khứ không còn tồn tại nữa. Sự khám phá không có kết quả.
Vì vậy, thời gian xuất hiện của con người trên địa cầu vẫn còn là một sự bí ẩn.
Đối với sự thụ tạo gián tiếp hay trực tiếp, nguyên nhân sinh hóa ra con người luôn là sự kỳ bí, dù cho con người đã giác ngộ được Nguyên Lý của vũ trụ, chức năng Hiểu hoạt động liên tục. Hiểu được nguyên lý sinh hóa, nhưng không biết được thời gian sinh hóa. Sự kỳ diệu này tương tự như robot được con người tạo ra, với vài chức năng suy nghĩ, dùng cho những việc, theo mục đích riêng của người tác tạo. Điều không thể tránh được, với sự suy nghĩ, robot sẽ ngơ ngác tìm hiểu, tại sao nó hiện hữu, và ai đã tạo nên nó. Nhưng về lâu, robot hoạt động, suy nghĩ, nó tưởng rằng nó có sự sống do chính nó tạo ra. Thật ra, Trí khôn của người tác tạo vào cấu trúc hoạt động và chức năng suy nghĩ của nó. Và năng lực tiềm tàng sinh động trong chức năng suy nghĩ của robot. Hay là robot thực hiện chức năng suy nghĩ do sự khởi phát từ nguyên ý (ý đầu tiên) của con người.
(1) Nếu con người có thể tạo ra phương tiện để kiểm soát quá khứ và tương lai bằng sự cảm ứng của sự chấn động của điện. Mức tiến hóa này cũng đã cao, nhưng phương tiện này chưa kiểm soát được sự sinh động của Sự Sáng, sự sống vì thể này không bị ảnh hưởng bởi không gian và thời gian, tức là không thể khám phá được sự suy nghĩ, Trí khôn con người trong quá khứ.
(2) Trừ những lời tiên tri có tính mặc khải về những sự kiện sắp xảy ra để giáo hóa tâm tư con người, thì những người tu, luyện theo phương pháp tập trung Sự Sáng về não bộ cũng có khả năng biết được quá khứ của mình trong nhiều kiếp, và biết được sự tiến hóa của mình trong tương lai qua các loại thân.
Khả năng này, là vận dụng sự châu biến của Sự Sáng của Trí và Tuệ để kiểm soát và nhận ra những hiện tượng, sự kiện trong khoảng thời gian của một vạn năm, dưới dạng chấn động của điện, tức là sự nhận biết qua sự châu biến của Sự Sáng năm ngàn năm trước và sau, tính từ hiện tại.