KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

THAM, DỤC MẠNH CỦA ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT (HỮU HÌNH) TRONG NỀN VĂN MINH VẬT CHẤT

Có nhiều loại sở hữu, hay là có nhiều cái “Có”. Cái Có hữu hình, siêu hình và vô hình liên quan đến mỗi đời sống, đến mục tiêu thành đạt của mỗi cá nhân, theo quan niệm tiến hóa hay thụ hưởng những sở hữu vô thường hay chơn thường.

Trong đời sống vật chất, sở hữu vật chất, hữu hình chiếm ưu thế trên hai sở hữu tinh thần và tâm linh.

Sự sáng tạo của Trí khôn tập trung vào sự chế biến, chế xuất vận dụng. Sự suy nghĩ chiếm nhiều thời gian và hướng ra ngoại cảnh, ngoại vật.

Trí khôn hướng ra ngoài, bên trong Tham, Dục nổi lên rất mạnh và mất nhiều thời gian trong sinh hoạt.

Đúng vậy, Tham, Dục trào dâng mạnh nhất trong đời sống vật chất, đời sống hữu hình do con người sáng tạo.

Sở hữu tài sản hữu hình luôn làm Tâm Trí vương vấn vào hình dáng của tài sản. Thật khó để con người hướng Trí khôn của mình vào những gì phi thường, siêu nhiên có sức tồn tại lâu dài bên trong.

Đây là đặc thù, và tất nhiên, nó phải nảy nở trong nền văn minh vật chất.

Nếu không quan tâm, để ý, con người không thể nhận ra tính vô thường (tính biến đổi) của sở hữu tài sản hữu hình này.

Người “Trí sáng” thấy được sự diễn tiến của Tham, Dục vào đường Tội, Lỗi, cho nên là họ tránh hơn là phàn nàn về thực tế này.

Hướng đời sống vào sự tiến hóa, vào sự mở rộng của không gian và thời gian lâu dài bên trong, sở hữu bên ngoài phải bỏ hết. Hình dáng tài sản và tâm tư con người liên quan đến bên ngoài cũng không còn.

Đây chẳng phải là sự từ bỏ hoàn toàn “cái có hữu hình”, quan niệm này có quá đáng không?

- Thật ra, khi con người đưa đời sống vào trong, Trí khôn và Trí quan sát không hướng tầm nhìn ra bên ngoài, nên “sở hữu tài sản tuy Có, nhưng cũng như không Có”. Như vậy, chúng chỉ là những phương tiện hữu ích cho nhu cầu cần thiết cho một đời sống bình dị trong nền văn minh vật chất.

Bình dị trong giao tế xã hội bên ngoài, cao thượng, cao siêu luôn sinh động trong đời sống nội tại.

Như vậy, đưa đời sống vào trong là bỏ tất cả những gì làm Tâm Trí vướng bận, lúc đó Tâm Trí mới được giải thoát và tự do.

Từ sự vô hình dáng, vô tâm trạng, Tâm Trí con người hiện hữu trong trạng thái chơn không, Hư vô.

Trạng thái chơn không, Hư vô của Tâm Trí là nền tảng của đời sống tâm linh. Và mọi sinh hoạt, hoạt động của Tâm Trí đều xuất nguồn từ trạng thái này.

Tóm lại:

Đời sống vật chất liên quan đến “cái Có hữu hình”.

Đời sống tinh thần dính dáng đến “cái Có Siêu hình”.

Đời sống tâm linh liên quan đến “cái Có vô hình”.

Cái Có hữu hình: luôn bị biến đổi, giới hạn không ổn định, cho nên có: Thăng trầm, cảnh ngộ biến đổi, gặp phong trần.

Sang, hèn, vinh, nhục… tất phải trải qua,

Đó là Phước, Họa vậy.

Cái Có siêu hình: của đời sống tinh thần chỉ có tăng, không bị giảm.

Nó ổn định, đặc biệt là đức tính. Nếu con người sống, sinh hoạt bằng Đức, thì Thân được hưởng chơn phước, và Tâm Trí thanh cao, và mãi mãi thanh cao.

Cái Có vô hình: thì vô tận và mãi mãi tiến hóa (tự sinh động, tự nâng bản chất, bản tính, tính năng) như Sự Sáng của Trí trong con người.

Tham, Dục sinh động mạnh của đời sống vật chất trong nền văn minh vật chất là sự trổi vượt của cảm giác trên tình cảm và tư tưởng thuộc về Lý.

Con người ở thời đại văn minh vật chất, hay con người sống bằng đời sống vật chất không tu được. Nếu muốn tu cũng rất khó, bởi vì, Tâm Trí luôn tiếp xúc với bên ngoài. Và, do con người tạo quá nhiều vật dụng tinh vi, phức tạp trong cơ cấu, với sự can dự liên tục của Trí, khi điều khiển, vận dụng chúng. Hơn nữa, thú tiêu khiển qua thính thị hoạt động suốt ngày đêm.

Do đó, con người không còn thời gian để hồi quang, để nhìn vào bản thể của mình trong trạng thái hư vô, tức là “cảm nhận được sự sống thật của chính mình” (1).

Nhờ vào trạng thái hư vô của Tâm Trí mà con người cảm nghiệm được sự linh thiêng và mầu nhiệm.

Nhưng, nếu chỉ một tâm trạng nổi lên, Trí bất minh, sự linh thiêng, mầu nhiệm tức thì, tan biến.

Sự chơn thường do vô thường phá tan. Sự sống thật bên trong bị sự sống giả tạm bên ngoài che lấp với sự dấy lên của Tham, Dục của tâm tư. Nhưng Tham, Dục ngày càng tăng do sự cám dỗ, đặc biệt là sự cám dỗ của nhục dục.

Sự cám dỗ của nhục dục có sức ngăn trở sự tiến hóa của đời sống tâm linh.

Nhưng, sự dục cảm của nhục thân hủy hoại sức sống tâm linh. Đối với đời sống này, nó được coi như thuốc độc, một loại độc tố cực mạnh làm tiêu biến sự linh thiêng và mầu nhiệm.

Như vậy, con người thụ hưởng sự khoái cảm, dục cảm làm mất đi sự linh thiêng, vì Tánh (hồn nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên) bị sự rung cảm của cảm giác (của Huyết, Khí, Điện) che mờ đi.

Đối với người sống bằng đời sống nội tại, Tâm trí luôn cảnh giác sự cám dỗ, và phải tự giữ mình liên tục.

Trẻ con chưa đủ Trí khôn để phân biệt được sự dơ, sạch, có hại cho Thân. Người lớn, tuy đủ Trí suy nghĩ, nhưng vẫn phạm vào những điều làm dơ, hại đến tâm hồn như sự dữ, độc, ác, những điều sai, trái, xấu.

Trẻ thơ phải được hướng dẫn để giữ gìn cho Thân được sạch sẽ, khỏe mạnh.

Người lớn phải tự giữ lấy sự trong sạch của tâm hồn.


(1) “Sự sống thật” sinh động với sự linh thiêng và mầu nhiệm, nhưng con người không tìm ra được do những sinh hoạt của sức sống của “cái Tôi” bên ngoài che đậy mất.

Đã sao chép liên kết!