KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- Sự mầu nhiệm
- Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu: chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- a. Người bình thường
- b. Người Trí
- c. Người tiến hóa
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- a. Khí kém do hao tán
- b. Khí vượng
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- a. Khí hao
- b. Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sự minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
CHUYỂN HÓA TRONG SINH HOẠT
Sinh hoạt trong đời sống con người biến đổi, thay đổi vô cùng. Có sinh hoạt ta cảm nhận được trực tiếp, nhưng có sinh hoạt ta phải quan tâm, chú ý mới nhận ra được chúng, và kiểm soát được sự diễn biến của nó.
Tất cả sức sống trong con người và luôn cả sự sống đều tạo ra những sinh hoạt theo ý muốn của mỗi người. Với đa số, trong một giây, một phút, vô số sinh hoạt khác nhau biểu hiện, không cùng một loại xảy ra.
Sự phong phú của sinh hoạt chứng minh đời sống con người có một sự biến đổi từ sự đơn sơ đến phức tạp, tinh tế mà con người hưởng thụ. Nhưng, nhiều người không cảm biết, vì đã không quan sát những diễn biến này, và do đó không kiểm soát được chúng để tận hưởng những tinh hoa của sinh hoạt, và của tất cả mọi loại sinh hoạt. Vì vậy, họ chỉ thấy đời sống luôn hiện ra những phiền não, mà kiếp người phải qua như một sự đọa đày. Họ sống với quan niệm bi quan.
Ngược lại, nếu con người quan sát được trong sự đổi mới của sự tiến hóa, tiến bộ của Thân, Tâm, Trí ngày càng có nhiều tinh hoa trong mỗi sinh hoạt, thì đời sống của họ luôn sinh động bằng những quan niệm lạc quan.
Quan niệm lạc quan của đời sống chứa đựng bên trong sự thụ hưởng, tận hưởng những tinh hoa của tiến bộ, tiến hóa trong sinh hoạt – một sự thụ hưởng, tận hưởng không tạo ra sự đam mê, không làm cho đời sống tinh thần, tâm linh phải thái hóa. Còn những đam mê do ngoại cảnh đưa vào bằng cảm giác, hoặc tình cảm mà con người ưa thích, như những loại cảm giác tạo nên ảo ảnh, kích dục, hoặc tạo ra những ảo tưởng, chúng dần dần in sâu vào chức năng nhớ của Trí, tước đoạt sự kiểm soát, quyền làm chủ của Trí khôn mình trên bản thân (1).
Chuyển hóa trong sinh hoạt là sự đổi mới trong sự tiến hóa mà con người cảm nghiệm được qua sự tuần tự can dự của Thân, Tâm, Trí.
Sinh hoạt khởi đầu từ Thân (nhục thân) tức là từ cảm giác thô sơ đến tinh tế, có sự quan sát, cảm nghiệm của nhục thân và Trí.
Cảm giác thấp nhất là xúc giác, đến vị giác, khứu giác, thính giác, thị giác. Sự chuyển hóa trong sinh hoạt từ ngoài da, đến lưỡi, mũi, tai, sau cùng là mắt, tương quan vị trí của các giác quan trên đầu từ thấp lên cao.
Hay ngược lại, các giác quan ở những vị trí cao, càng tinh tế, và có khả năng tiếp xúc ở một không gian xa, như tai đặc biệt là mắt.
Sự chuyển hóa của con người trong sinh hoạt từ Thân, đến Tâm và sau cùng là Trí. Hay là, sự chuyển hóa từ cảm giác đến tình cảm và cuối cùng là tư tưởng.
Cảm giác có được nhờ nhục thân. Cảm giác sinh ra tình cảm. Và cảm giác, tình cảm là nguồn gốc sự chuyển hóa ra tư tưởng.
Ở nhục thân, sự chuyển hóa cũng xảy ra trong những chức năng của giác quan qua sự cảm nhận từ gần đến xa những hiện tượng của thế giới tự nhiên để đưa những tín hiệu về não để phát triển Trí năng.
Những hiện tượng cảm nhận được từ nhục thân qua giác quan, đầu tiên là:
Da cảm được Nhiệt độ (nóng, lạnh, ấm, mát…).
Miệng nếm được Vị.
Mũi ngửi được Hương.
Tai nghe được Thanh.
Mắt nhận ra Sắc.
So với vị trí của giác quan ở đầu từ thấp lên cao, những giác quan ở vị trí cao có tầm hoạt động xa, tiếp xúc nhiều hiện tượng. Chúng có khả năng phát triển nhiều Trí năng hơn những giác quan ở vị trí thấp. Mức tiến hóa trong sự chuyển hóa như sau:
BẢNG
Sinh hoạt đầu tiên trong đời sống nhục thân là cảm giác.
Trong nhục thân, nếu không có thể Thủy (Huyết) thì không có cảm giác. Nhưng nếu không có Sự Sáng (Trí) sinh động trong đó thì không có sự nhận biết trong đó. Như, khi ngủ, con người không có cảm giác, hay là khi nhục thân chết, Huyết ngưng chuyển động, cảm giác không còn.
Cảm giác có được là nhờ ở sự sinh động và chuyển động của Huyết, nhưng nếu không có Sự Sáng sinh động trong đó, ý thức không phát sinh, thì không có sự cảm nhận về cường độ của cảm giác.
Nhờ sự xúc tác của thể sáng (Sự Sáng) của Trí với ý thức trong cảm giác, mà một hiện tượng khác được nảy sinh dưới dạng của Khí trong Huyết. Đó là tình cảm.
Được sinh ra là tạo vật, một thụ tạo.
Tình cảm là một tạo vật, một thực thể, một năng lực mới, một nhân tố mới trong sinh hoạt trong nhân sinh quan và vũ trụ quan của đời sống tinh thần và tâm linh…
Dù cho bản chất, bản tính và tính năng của nó thuộc về loại nào, thì tình cảm là một hiện tượng được chuyển hóa từ cảm giác.
Nó là một hiện tượng tâm sinh lý sinh ra từ cảm giác, hay là một phức hợp của tâm lý và sinh lý tạo ra sự ham muốn, ưa thích hay không ưa thích.
Sự ham muốn, ưa thích về cảm giác mà ta gọi là Dục, gồm có 5 loại, liên quan đến năm giác quan là:
- Nhục dục.
- Vị dục.
- Hương dục.
- Thanh dục.
- Sắc dục.
Các loại cảm giác phát sinh ra Dục cũng tạo ra một phần của tình cảm, kích thích Trí khôn hoặc đưa con người vào sự đam mê.
Sự nảy sinh của tình cảm từ cảm giác mở rộng sự sinh hoạt của con người, giúp cho sự tiếp xúc giữa người với người trở nên phong phú hơn, và ngay cả trong bản thân của mình và của tha nhân.
Nó không giống như cảm giác, chỉ sinh động ngắn hạn trong nhục thân của mỗi cá nhân.
Sinh hoạt của con người được chuyển hóa từ:
Cảm giác → sang tình cảm, hay từ:
Nhục thân → sang Tâm.
Tính quan trọng của sự chuyển hóa này là sự nảy sinh của một bộ phận vô hình là Tâm. Nó chứa đựng sự sinh động của tình cảm.
Nếu tình cảm được đưa vào sinh hoạt, nghĩa là đời sống con người có sự can dự của một bộ phận vô hình, đó là Tâm.
Nói cách khác, sinh hoạt bên ngoài trở nên phong phú hơn nhờ vào sự sinh động vô hình của “một bộ phận có, cũng như không có”, trong thân con người.
Đối với sự tiến hóa, sự nảy sinh những bộ phận vô hình và sự sinh động của nó rất quan trọng. Nhưng sự chuyển hóa vẫn tiếp diễn từ cảm giác và tình cảm, hay là từ nhục thân và Tâm sang một thực thể khác.
Sự chuyển hóa này đưa đến một sự đổi thay quan trọng cho đời sống con người, đó là tư tưởng của Trí.
Không như tình cảm, sự rung động của tình cảm phải có đối tượng hữu hình, nó mới khởi động được. Nó không xảy ra thường xuyên, và tốc độ rung cảm không nhanh.
Trái lại, tốc độ của tư tưởng cực nhanh. Nó làm cho sinh hoạt trở nên vô cùng linh động. Đối tượng sinh hóa ra tư tưởng tăng lên từ hữu hình, siêu hình và vô hình.
Đối tượng vô hình chẳng cần đến sự can dự của giác quan trong sự tư duy, để tìm ra cái Lý trong sự, việc, hiện tượng v.v…
Sự tiến hóa từ sự chuyển hóa của những yếu tố liên quan được nhận ra từ mỗi yếu tố, nơi sinh động, và tốc độ của mỗi yếu tố:
BẢNG
Sự cảm nhận của thị giác con người ngày nay rất nhanh do sự sử dụng những phương tiện có tốc độ nhanh.
Nó làm tăng mức linh hoạt của Trí, tuy nhiên, tất cả đều là sản phẩm của tư tưởng, mà tốc độ xuất hiện của nó, con người chưa đo, chưa biết được. Dù vậy, Trí con người vẫn kiểm soát được tốc độ vô hình của sự nảy sinh ra tư tưởng.
Đối với thế giới giác quan, tức là thế giới sinh hoạt của con người với 5 giác quan được đưa vào sử dụng trong sinh hoạt tổng hợp của cảm giác, tình cảm và tư tưởng, thì sự tiến hóa của con người đạt đến mức nào?
- Trong sinh hoạt của con người luôn có sự đổi mới. Sự khác thường này, nếu là sự vui, nó có thể được giữ lại trong ký ức, nếu không, nó sẽ bị quên đi
Thật ra, sự quên lãng của ký ức, do nó không có giá trị thực tiễn, hoặc cá nhân đó, không khám phá ra giá trị tiến hóa để suy ngẫm, để thăng hoa nó.
Cũng như, trong sinh hoạt tổng hợp của cảm giác, tình cảm và tư tưởng, thì sinh hoạt nào có tốc độ nhanh nhất, có khả năng tiến hóa nhanh. Đó là sinh hoạt của tư tưởng, cũng là vận dụng của Trí con người vậy.
Vận dụng Trí khôn con người trong sinh hoạt, là mức tiến hóa đạt đến mức cao nhất của nhục thân với sự sử dụng năm giác quan. Nhưng tinh hoa của tư tưởng không đơn thuần là sự tiến hóa của một cá nhân, mà nó là giá trị để tiến hóa nhân bản trong sự khơi động Lương Tâm.
Hay là, nhờ sự hoạt động của Lương Tâm, tư tưởng của con người có giá trị thật để tiến hóa nhân bản, hướng theo sự thiện, dần đến sự thánh thiện. Và nó hóa giải được tính độc, ác của Trí khôn con người, của tư tưởng sáng tạo với mục đích đề cao, tôn vinh bản ngã trong sự tranh đua danh tiếng.
Trong sinh hoạt tổng hợp của cảm giác, tình cảm, tư tưởng của đời sống tự nhiên, chỉ có tư tưởng là một yếu tố quan trọng, đưa con người lên hàng ưu việt, siêu việt đối với tất cả loài sinh vật hữu hình trên địa cầu, sống bằng bản năng tự nhiên để sinh tồn.
Quãng cách biệt từ bản năng, là tư tưởng tạo nên tài năng và thiên tài năng.
Đây là những tinh hoa của Trí khôn, Trí thông minh, được tạo nên từ tư tưởng. Nó sinh động mãi, không mệt mỏi và ngày càng nhanh
Sự sinh động và tồn tại trong sự sáng tạo mới chứng tỏ được sự tuyệt đối quý của một bộ phận vô hình trong con người, đó là Trí khôn, nơi tạo ra tư tưởng.
Từ sự hoạt động của tư tưởng cho thấy quãng cách của bản năng đến khả năng rất xa, từ khả năng chuyển sang tài năng, cuối cùng đến thiên tài năng, có một cách biệt mà sở đắc không thể ấn định được bằng một thời gian nhất định như trong giáo dục học đường, qui định giáo trình theo ngày, giờ, tháng, năm.
Dù khả năng, tài năng, và thiên tài năng là kết quả của tư tưởng, nhưng hiệu quả của nó lại thuộc về sự sáng suốt của Trí khôn và mục tiêu, kỳ vọng, do bản ngã của mỗi cá nhân.
Hay là, sự thành đạt của mỗi lãnh vực, mỗi bậc do nơi sáng suốt của Trí khôn, sự tích cực của tư duy, sự vận động bền bỉ của chức năng suy nghĩ.
Nói cách khác, sự suy nghĩ không mệt mỏi và sự sáng suốt của Trí khôn sinh hóa ra giá trị của tư tưởng, tự nó tạo ra đẳng cấp, lãnh vực của sinh hoạt.
Trong ngày, sinh hoạt từ tư tưởng con người dù dưới dạng hữu hình, siêu hình hay vô hình được tạo ra vô số, nhưng không phải ai cũng cảm nhận được sự bộc phát, sự diễn tiến của chúng. Nghĩa là, rất ít người kiểm soát được bản thể, bản tính và tính năng của tư tưởng đơn thuần, chưa kể đến sự kết hợp của tư tưởng với những bộ phận, cơ quan vô hình cùng sinh động để tạo nên mỗi lãnh vực của sinh hoạt.
Như sự khác biệt rất xa về giá trị của khả năng, tài năng và thiên tài năng với sự vận dụng của những bộ phận, cơ quan vô hình.
Khả năng: là mức tiến hóa trên bản năng, nó là sự kết hợp của tư tưởng, của Trí khôn với các giác quan, tay, chân, ngón tay, cườm tay những khớp nối của những bộ phận có khả năng hoạt động, chuyển động.
Đây là sự kết hợp của tư tưởng, Trí khôn với nhục thân, chưa tạo nên được sự rung động của tâm hồn của nhân tính. Vì vậy, tính nhân văn trong lãnh vực của khả năng chưa biểu lộ rõ ràng.
Tài năng: là mức tiến hóa của con người trên cả bản năng và khả năng.
Nó là sự kết hợp ở bên trong cả bên ngoài.
Bên trong là sự kết hợp của Tâm và Trí (của tâm hồn), bên ngoài là khả năng của nhục thân. Sự kết hợp này rất phong phú, bao gồm cả tình cảm, tư tưởng sáng tạo, và khả năng thuần thục của nhục thân.
Sự rung động của tâm hồn ở mức nào, thì tài năng được biểu lộ cũng tương quan ở mức đó. Nhân tính xuất hiện trong sinh hoạt, tình cảm nhẹ nhàng và tư tưởng sáng tạo sinh động làm tan biến thú tính.
Cái hay, vẻ đẹp trong tài năng được toát ra trong phong cách dịu dàng và lịch lãm. Tâm hồn rung động làm giảm đi các loại dục của nhục thân, hay là sinh hoạt và hoạt động của tâm hồn chế ngự được dục cảm của nhục thân.
Cái hay, vẻ đẹp của đời sống con người được thăng hoa do tài năng, và tính ưu việt trong nhân văn cũng do yếu tố này, mà nhân tài, chơn tài cảm nghiệm được sức điều khiển của Trí khôn của một sinh linh.
Hay là nhân tài, chơn tài nhận ra được sự tiến hóa của con người từ sự sinh động của tâm hồn, đưa sinh hoạt và hoạt động của đời sống ra khỏi cái vỏ chứa đựng nó (là nhục thân) đến một mức linh hoạt cao hơn là bản năng và khả năng của nhục thân.
Nói cách khác, khi tài năng hoạt động thì bản năng và khả năng lệ thuộc vào nó. Hay là, khi Tâm, Trí (tâm hồn) sinh động, thì nhục thân không còn chủ động, mà nó trở nên thụ động, lệ thuộc vào hoạt động của Tâm Trí.
Thiên tài năng: là một từ thường dùng để chỉ rõ một sự khác thường, một tài năng trổi vượt trên cả tài năng, khả năng và bản năng…, thành đạt được do công phu cố gắng.
Thiên tài năng không do sự cố gắng, nó có sẵn từ bẩm sinh với những dấu hiệu, hiện tượng lạ thường, như thân thể toát ra hương thơm ở da, tai thông, mắt sáng…, đặc biệt là da không bị trầy xước, không có thẹo…
Sự khác thường của sự tiến hóa không theo sự diễn tiến bình thường của đa số trong sinh hoạt là cảm giác, tình cảm và tư tưởng.
Với thiên tài năng, sinh hoạt toát ra những đức tính từ thời thơ ấu. Sinh hoạt hồn nhiên biểu lộ những đức tính trước cả tình cảm, cảm giác trong sinh hoạt chứng minh sự ưu việt, siêu việt trong đời sống.
Đức tính là nhân tố chính trong sinh hoạt sinh động trong tư tưởng xuất nguồn từ Lương Tâm.
Tinh hoa của nhân tính đạt ở mức cao nhờ sự sinh động của tính siêu nhiên trong đức tính, xóa tan sự hoạt động của bản ngã cá nhân, đặc thù của mỗi người, để tỏa ra cái hay, vẻ đẹp chung của loài người trong mỗi người.
Hay là, trong đời sống của thiên tài năng, đức tính trong nhân bản sinh động làm tan biến bản ngã cá nhân, biểu lộ sự ưu việt và siêu việt trong sinh hoạt.
Ở con người bình thường, Trí khôn hiểu được, phải tuần tự trải qua sự cảm nhận, biết và sau đó mới hiểu được, tức là muốn hiểu được cái Lý, phải có những hiện tượng hữu hình xảy ra. Vì vậy, “Hiểu” của “Trí bình thường”, là hiệu quả của “Biết” và “cảm nhận”. Nó không có tính cách sáng tạo mà chỉ phỏng tạo.
Ngược lại, Thiên tài năng dùng Lý mà tạo ra những hiện tượng siêu hình và hữu hình. Cho nên, thiên tài năng sáng tạo từ cái Lý vô hình ra sự hình dung trong tư tưởng, ra những hiện tượng siêu hình không thuộc về Trí thông thường nữa. Nhưng, nó là phương tiện cũng là chức năng để Trí chuyển sang sự vận dụng của Siêu Trí, và cao hơn nữa là Siêu siêu Trí (Tuệ) trong sự sáng tạo với những gì mới lạ được coi như gương, mẫu để người đời học làm theo.
Sự chuyển hóa trong thiên tài năng ở mức cực cao đối với sự phát triển của Trí. Và tốc độ được vận dụng trong sinh hoạt cũng cực nhanh do ở sự sinh hoạt, sự vận dụng thường xuyên của tư tưởng nhiều hơn tình cảm và cảm giác. Trái lại, ở khả năng và tài năng, đời sống hoạt động nhiều về cảm giác và tình cảm với tốc độ chuyển động chậm và tương đối chậm hơn tư tưởng.
Với tốc độ chuyển động và sinh động chậm, sự tiến hóa của Trí khôn tương quan cũng chậm.
Mức tiến hóa của Trí khôn do dự vận dụng các chức năng của Trí. Hay là, do sự hiểu biết rõ hiệu quả mỗi chức năng của Trí, con người có thể chủ động tiến hóa tùy theo sự ứng dụng của mỗi chức năng của Trí.
So sánh bốn mức tiến hóa (bản năng, khả năng, tài năng, thiên tài năng) với những chức năng của Trí, liên quan đến sự vận dụng và sinh hoạt trong đời sống, mức tiến hóa được nhận rõ ở mỗi bậc.
Bản năng: vận dụng chức năng quan sát của Trí.
Khả năng: sử dụng chức năng quan sát và chức năng nhớ của Trí.
Tài năng: sử dụng chức năng quan sát, nhớ và suy nghĩ.
Thiên tài năng: sử dụng tất cả các chức năng của Trí bao gồm chức năng quan sát, nhớ, suy nghĩ, thông minh (Thông minh: là kết quả, hiệu quả của sự tiến hóa của Trí khôn do nhiều chức năng quan sát, nhớ, suy nghĩ của Trí tạo nên).
Nhưng, thiên tài năng chủ yếu sử dụng Trí thông minh để tự tiến hóa bằng cái Lý luôn luôn tiềm ẩn sinh động trong thể sáng của Trí. Từ sự sinh động của cái Lý vô hình, tuôn trào ra mọi tư tưởng cho mọi chức năng suy nghĩ mà không cần đến những hiện tượng hữu hình bên ngoài.
Hơn nữa, Siêu Trí và Tuệ được vận dụng. Đặc biệt là những tư tưởng xuất nguồn từ Tuệ, chúng tồn tại mãi, vì sự toàn hảo sinh động trong cái Lý – sự sinh động này chỉ có một tính là Sinh mãi, nhưng không bị Diệt.
Sự thông minh thụ đắc từ cái Lý của Tuệ mới thật là thiên tài năng. Tư tưởng được sinh ra từ “cái Lý của vũ trụ” được coi như mẫu số chung cho tất cả những tư tưởng khác xuất ra từ Trí và Siêu Trí. Chúng được coi như tử số, vì những tư tưởng này còn có thể so sánh được.
Bảng tóm tắt về mức tiến hóa, và các chức năng của Trí (Siêu Trí, Tuệ) được sử dụng:
BẢNG
Mức tiến hóa của con người khác nhau rất xa do sử dụng nhiều hay ít chức năng của Trí. Mỗi bậc liên quan đến mỗi cõi giới, từ cõi tự nhiên sang cõi siêu nhiên và siêu siêu nhiên trong sinh hoạt rất tự do và chủ động. Nhưng con người không nhận ra được, chỉ vì Trí khôn không quay vào trong để quan sát những sinh động vô hình, siêu hình, nên không nhận ra được mỗi chức năng thuộc mỗi cõi giới khác nhau.
Như, chức năng quan sát của các giác quan thuộc về cõi giới tự nhiên, nhưng “nhớ” lại thuộc về cõi giới siêu nhiên, dù những sự kiện, hiện tượng siêu hình được giữ trong bộ nhớ được cung cấp từ ngoại cảnh hữu hình. Chức năng suy nghĩ hoạt động trong cõi giới siêu siêu nhiên, từ cái Lý vô hình.
Mỗi chức năng của Trí được coi như phương tiện, hay là một cửa mở đóng để đưa sinh hoạt con người từ một cõi giới này sang một cõi giới khác trong một tiểu vũ trụ với một cấu trúc vi tế, đầy đủ như một đại vũ trụ.
Một cõi giới trong tiểu vũ trụ, tuy nhỏ và vô hình, nhưng mức tiến hóa của nó rất xa từ cõi giới này sang sinh hoạt của Trí ở một cõi giới khác.
(1) Ma túy, quỷ túy… làm mất Trí khôn. Mất Trí khôn con người mất hết quyền làm chủ, trở thành nô lệ cho đam mê.
Mất Trí khôn, Lương Tâm không còn, nhân tính mất, thú tính và quỷ tính thay thế cho sự khôn ngoan tạo nên những hành vi, hành động ác, độc, quỷ quái cho tha nhân.