KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

CHUYỂN HÓA TRONG SINH HOẠT

Sinh hoạt trong đời sống con người biến đổi, thay đổi vô cùng. Có sinh hoạt ta cảm nhận được trực tiếp, nhưng có sinh hoạt ta phải quan tâm, chú ý mới nhận ra được chúng, và kiểm soát được sự diễn biến của nó.

Tất cả sức sống trong con người và luôn cả sự sống đều tạo ra những sinh hoạt theo ý muốn của mỗi người. Với đa số, trong một giây, một phút, vô số sinh hoạt khác nhau biểu hiện, không cùng một loại xảy ra.

Sự phong phú của sinh hoạt chứng minh đời sống con người có một sự biến đổi từ sự đơn sơ đến phức tạp, tinh tế mà con người hưởng thụ. Nhưng, nhiều người không cảm biết, vì đã không quan sát những diễn biến này, và do đó không kiểm soát được chúng để tận hưởng những tinh hoa của sinh hoạt, và của tất cả mọi loại sinh hoạt. Vì vậy, họ chỉ thấy đời sống luôn hiện ra những phiền não, mà kiếp người phải qua như một sự đọa đày. Họ sống với quan niệm bi quan.

Ngược lại, nếu con người quan sát được trong sự đổi mới của sự tiến hóa, tiến bộ của Thân, Tâm, Trí ngày càng có nhiều tinh hoa trong mỗi sinh hoạt, thì đời sống của họ luôn sinh động bằng những quan niệm lạc quan.

Quan niệm lạc quan của đời sống chứa đựng bên trong sự thụ hưởng, tận hưởng những tinh hoa của tiến bộ, tiến hóa trong sinh hoạt – một sự thụ hưởng, tận hưởng không tạo ra sự đam mê, không làm cho đời sống tinh thần, tâm linh phải thái hóa. Còn những đam mê do ngoại cảnh đưa vào bằng cảm giác, hoặc tình cảm mà con người ưa thích, như những loại cảm giác tạo nên ảo ảnh, kích dục, hoặc tạo ra những ảo tưởng, chúng dần dần in sâu vào chức năng nhớ của Trí, tước đoạt sự kiểm soát, quyền làm chủ của Trí khôn mình trên bản thân (1).

Chuyển hóa trong sinh hoạt là sự đổi mới trong sự tiến hóa mà con người cảm nghiệm được qua sự tuần tự can dự của Thân, Tâm, Trí.

Sinh hoạt khởi đầu từ Thân (nhục thân) tức là từ cảm giác thô sơ đến tinh tế, có sự quan sát, cảm nghiệm của nhục thân và Trí.

Cảm giác thấp nhất là xúc giác, đến vị giác, khứu giác, thính giác, thị giác. Sự chuyển hóa trong sinh hoạt từ ngoài da, đến lưỡi, mũi, tai, sau cùng là mắt, tương quan vị trí của các giác quan trên đầu từ thấp lên cao.

Hay ngược lại, các giác quan ở những vị trí cao, càng tinh tế, và có khả năng tiếp xúc ở một không gian xa, như tai đặc biệt là mắt.

Sự chuyển hóa của con người trong sinh hoạt từ Thân, đến Tâm và sau cùng là Trí. Hay là, sự chuyển hóa từ cảm giác đến tình cảm và cuối cùng là tư tưởng.

Cảm giác có được nhờ nhục thân. Cảm giác sinh ra tình cảm. Và cảm giác, tình cảm là nguồn gốc sự chuyển hóa ra tư tưởng.

Ở nhục thân, sự chuyển hóa cũng xảy ra trong những chức năng của giác quan qua sự cảm nhận từ gần đến xa những hiện tượng của thế giới tự nhiên để đưa những tín hiệu về não để phát triển Trí năng.

Những hiện tượng cảm nhận được từ nhục thân qua giác quan, đầu tiên là:

Da cảm được Nhiệt độ (nóng, lạnh, ấm, mát…).

Miệng nếm được Vị.

Mũi ngửi được Hương.

Tai nghe được Thanh.

Mắt nhận ra Sắc.

So với vị trí của giác quan ở đầu từ thấp lên cao, những giác quan ở vị trí cao có tầm hoạt động xa, tiếp xúc nhiều hiện tượng. Chúng có khả năng phát triển nhiều Trí năng hơn những giác quan ở vị trí thấp. Mức tiến hóa trong sự chuyển hóa như sau:

BẢNG

Sinh hoạt đầu tiên trong đời sống nhục thân là cảm giác.

Trong nhục thân, nếu không có thể Thủy (Huyết) thì không có cảm giác. Nhưng nếu không có Sự Sáng (Trí) sinh động trong đó thì không có sự nhận biết trong đó. Như, khi ngủ, con người không có cảm giác, hay là khi nhục thân chết, Huyết ngưng chuyển động, cảm giác không còn.

Cảm giác có được là nhờ ở sự sinh động và chuyển động của Huyết, nhưng nếu không có Sự Sáng sinh động trong đó, ý thức không phát sinh, thì không có sự cảm nhận về cường độ của cảm giác.

Nhờ sự xúc tác của thể sáng (Sự Sáng) của Trí với ý thức trong cảm giác, mà một hiện tượng khác được nảy sinh dưới dạng của Khí trong Huyết. Đó là tình cảm.

Được sinh ra là tạo vật, một thụ tạo.

Tình cảm là một tạo vật, một thực thể, một năng lực mới, một nhân tố mới trong sinh hoạt trong nhân sinh quan và vũ trụ quan của đời sống tinh thần và tâm linh…

Dù cho bản chất, bản tính và tính năng của nó thuộc về loại nào, thì tình cảm là một hiện tượng được chuyển hóa từ cảm giác.

Nó là một hiện tượng tâm sinh lý sinh ra từ cảm giác, hay là một phức hợp của tâm lý và sinh lý tạo ra sự ham muốn, ưa thích hay không ưa thích.

Sự ham muốn, ưa thích về cảm giác mà ta gọi là Dục, gồm có 5 loại, liên quan đến năm giác quan là:

- Nhục dục.

- Vị dục.

- Hương dục.

- Thanh dục.

- Sắc dục.

Các loại cảm giác phát sinh ra Dục cũng tạo ra một phần của tình cảm, kích thích Trí khôn hoặc đưa con người vào sự đam mê.

Sự nảy sinh của tình cảm từ cảm giác mở rộng sự sinh hoạt của con người, giúp cho sự tiếp xúc giữa người với người trở nên phong phú hơn, và ngay cả trong bản thân của mình và của tha nhân.

Nó không giống như cảm giác, chỉ sinh động ngắn hạn trong nhục thân của mỗi cá nhân.

Sinh hoạt của con người được chuyển hóa từ:

Cảm giác → sang tình cảm, hay từ:

Nhục thân → sang Tâm.

Tính quan trọng của sự chuyển hóa này là sự nảy sinh của một bộ phận vô hình là Tâm. Nó chứa đựng sự sinh động của tình cảm.

Nếu tình cảm được đưa vào sinh hoạt, nghĩa là đời sống con người có sự can dự của một bộ phận vô hình, đó là Tâm.

Nói cách khác, sinh hoạt bên ngoài trở nên phong phú hơn nhờ vào sự sinh động vô hình của “một bộ phận có, cũng như không có”, trong thân con người.

Đối với sự tiến hóa, sự nảy sinh những bộ phận vô hình và sự sinh động của nó rất quan trọng. Nhưng sự chuyển hóa vẫn tiếp diễn từ cảm giác và tình cảm, hay là từ nhục thân và Tâm sang một thực thể khác.

Sự chuyển hóa này đưa đến một sự đổi thay quan trọng cho đời sống con người, đó là tư tưởng của Trí.

Không như tình cảm, sự rung động của tình cảm phải có đối tượng hữu hình, nó mới khởi động được. Nó không xảy ra thường xuyên, và tốc độ rung cảm không nhanh.

Trái lại, tốc độ của tư tưởng cực nhanh. Nó làm cho sinh hoạt trở nên vô cùng linh động. Đối tượng sinh hóa ra tư tưởng tăng lên từ hữu hình, siêu hình và vô hình.

Đối tượng vô hình chẳng cần đến sự can dự của giác quan trong sự tư duy, để tìm ra cái Lý trong sự, việc, hiện tượng v.v…

Sự tiến hóa từ sự chuyển hóa của những yếu tố liên quan được nhận ra từ mỗi yếu tố, nơi sinh động, và tốc độ của mỗi yếu tố:

BẢNG

Sự cảm nhận của thị giác con người ngày nay rất nhanh do sự sử dụng những phương tiện có tốc độ nhanh.

Nó làm tăng mức linh hoạt của Trí, tuy nhiên, tất cả đều là sản phẩm của tư tưởng, mà tốc độ xuất hiện của nó, con người chưa đo, chưa biết được. Dù vậy, Trí con người vẫn kiểm soát được tốc độ vô hình của sự nảy sinh ra tư tưởng.

Đối với thế giới giác quan, tức là thế giới sinh hoạt của con người với 5 giác quan được đưa vào sử dụng trong sinh hoạt tổng hợp của cảm giác, tình cảm và tư tưởng, thì sự tiến hóa của con người đạt đến mức nào?

- Trong sinh hoạt của con người luôn có sự đổi mới. Sự khác thường này, nếu là sự vui, nó có thể được giữ lại trong ký ức, nếu không, nó sẽ bị quên đi

Thật ra, sự quên lãng của ký ức, do nó không có giá trị thực tiễn, hoặc cá nhân đó, không khám phá ra giá trị tiến hóa để suy ngẫm, để thăng hoa nó.

Cũng như, trong sinh hoạt tổng hợp của cảm giác, tình cảm và tư tưởng, thì sinh hoạt nào có tốc độ nhanh nhất, có khả năng tiến hóa nhanh. Đó là sinh hoạt của tư tưởng, cũng là vận dụng của Trí con người vậy.

Vận dụng Trí khôn con người trong sinh hoạt, là mức tiến hóa đạt đến mức cao nhất của nhục thân với sự sử dụng năm giác quan. Nhưng tinh hoa của tư tưởng không đơn thuần là sự tiến hóa của một cá nhân, mà nó là giá trị để tiến hóa nhân bản trong sự khơi động Lương Tâm.

Hay là, nhờ sự hoạt động của Lương Tâm, tư tưởng của con người có giá trị thật để tiến hóa nhân bản, hướng theo sự thiện, dần đến sự thánh thiện. Và nó hóa giải được tính độc, ác của Trí khôn con người, của tư tưởng sáng tạo với mục đích đề cao, tôn vinh bản ngã trong sự tranh đua danh tiếng.

Trong sinh hoạt tổng hợp của cảm giác, tình cảm, tư tưởng của đời sống tự nhiên, chỉ có tư tưởng là một yếu tố quan trọng, đưa con người lên hàng ưu việt, siêu việt đối với tất cả loài sinh vật hữu hình trên địa cầu, sống bằng bản năng tự nhiên để sinh tồn.

Quãng cách biệt từ bản năng, là tư tưởng tạo nên tài năng và thiên tài năng.

Đây là những tinh hoa của Trí khôn, Trí thông minh, được tạo nên từ tư tưởng. Nó sinh động mãi, không mệt mỏi và ngày càng nhanh

Sự sinh động và tồn tại trong sự sáng tạo mới chứng tỏ được sự tuyệt đối quý của một bộ phận vô hình trong con người, đó là Trí khôn, nơi tạo ra tư tưởng.

Từ sự hoạt động của tư tưởng cho thấy quãng cách của bản năng đến khả năng rất xa, từ khả năng chuyển sang tài năng, cuối cùng đến thiên tài năng, có một cách biệt mà sở đắc không thể ấn định được bằng một thời gian nhất định như trong giáo dục học đường, qui định giáo trình theo ngày, giờ, tháng, năm.

Dù khả năng, tài năng, và thiên tài năng là kết quả của tư tưởng, nhưng hiệu quả của nó lại thuộc về sự sáng suốt của Trí khôn và mục tiêu, kỳ vọng, do bản ngã của mỗi cá nhân.

Hay là, sự thành đạt của mỗi lãnh vực, mỗi bậc do nơi sáng suốt của Trí khôn, sự tích cực của tư duy, sự vận động bền bỉ của chức năng suy nghĩ.

Nói cách khác, sự suy nghĩ không mệt mỏi và sự sáng suốt của Trí khôn sinh hóa ra giá trị của tư tưởng, tự nó tạo ra đẳng cấp, lãnh vực của sinh hoạt.

Trong ngày, sinh hoạt từ tư tưởng con người dù dưới dạng hữu hình, siêu hình hay vô hình được tạo ra vô số, nhưng không phải ai cũng cảm nhận được sự bộc phát, sự diễn tiến của chúng. Nghĩa là, rất ít người kiểm soát được bản thể, bản tính và tính năng của tư tưởng đơn thuần, chưa kể đến sự kết hợp của tư tưởng với những bộ phận, cơ quan vô hình cùng sinh động để tạo nên mỗi lãnh vực của sinh hoạt.

Như sự khác biệt rất xa về giá trị của khả năng, tài năng và thiên tài năng với sự vận dụng của những bộ phận, cơ quan vô hình.

Khả năng: là mức tiến hóa trên bản năng, nó là sự kết hợp của tư tưởng, của Trí khôn với các giác quan, tay, chân, ngón tay, cườm tay những khớp nối của những bộ phận có khả năng hoạt động, chuyển động.

Đây là sự kết hợp của tư tưởng, Trí khôn với nhục thân, chưa tạo nên được sự rung động của tâm hồn của nhân tính. Vì vậy, tính nhân văn trong lãnh vực của khả năng chưa biểu lộ rõ ràng.

Tài năng: là mức tiến hóa của con người trên cả bản năng và khả năng.

Nó là sự kết hợp ở bên trong cả bên ngoài.

Bên trong là sự kết hợp của Tâm và Trí (của tâm hồn), bên ngoài là khả năng của nhục thân. Sự kết hợp này rất phong phú, bao gồm cả tình cảm, tư tưởng sáng tạo, và khả năng thuần thục của nhục thân.

Sự rung động của tâm hồn ở mức nào, thì tài năng được biểu lộ cũng tương quan ở mức đó. Nhân tính xuất hiện trong sinh hoạt, tình cảm nhẹ nhàng và tư tưởng sáng tạo sinh động làm tan biến thú tính.

Cái hay, vẻ đẹp trong tài năng được toát ra trong phong cách dịu dàng và lịch lãm. Tâm hồn rung động làm giảm đi các loại dục của nhục thân, hay là sinh hoạt và hoạt động của tâm hồn chế ngự được dục cảm của nhục thân.

Cái hay, vẻ đẹp của đời sống con người được thăng hoa do tài năng, và tính ưu việt trong nhân văn cũng do yếu tố này, mà nhân tài, chơn tài cảm nghiệm được sức điều khiển của Trí khôn của một sinh linh.

Hay là nhân tài, chơn tài nhận ra được sự tiến hóa của con người từ sự sinh động của tâm hồn, đưa sinh hoạt và hoạt động của đời sống ra khỏi cái vỏ chứa đựng nó (là nhục thân) đến một mức linh hoạt cao hơn là bản năng và khả năng của nhục thân.

Nói cách khác, khi tài năng hoạt động thì bản năng và khả năng lệ thuộc vào nó. Hay là, khi Tâm, Trí (tâm hồn) sinh động, thì nhục thân không còn chủ động, mà nó trở nên thụ động, lệ thuộc vào hoạt động của Tâm Trí.

Thiên tài năng: là một từ thường dùng để chỉ rõ một sự khác thường, một tài năng trổi vượt trên cả tài năng, khả năng và bản năng…, thành đạt được do công phu cố gắng.

Thiên tài năng không do sự cố gắng, nó có sẵn từ bẩm sinh với những dấu hiệu, hiện tượng lạ thường, như thân thể toát ra hương thơm ở da, tai thông, mắt sáng…, đặc biệt là da không bị trầy xước, không có thẹo…

Sự khác thường của sự tiến hóa không theo sự diễn tiến bình thường của đa số trong sinh hoạt là cảm giác, tình cảm và tư tưởng.

Với thiên tài năng, sinh hoạt toát ra những đức tính từ thời thơ ấu. Sinh hoạt hồn nhiên biểu lộ những đức tính trước cả tình cảm, cảm giác trong sinh hoạt chứng minh sự ưu việt, siêu việt trong đời sống.

Đức tính là nhân tố chính trong sinh hoạt sinh động trong tư tưởng xuất nguồn từ Lương Tâm.

Tinh hoa của nhân tính đạt ở mức cao nhờ sự sinh động của tính siêu nhiên trong đức tính, xóa tan sự hoạt động của bản ngã cá nhân, đặc thù của mỗi người, để tỏa ra cái hay, vẻ đẹp chung của loài người trong mỗi người.

Hay là, trong đời sống của thiên tài năng, đức tính trong nhân bản sinh động làm tan biến bản ngã cá nhân, biểu lộ sự ưu việt và siêu việt trong sinh hoạt.

Ở con người bình thường, Trí khôn hiểu được, phải tuần tự trải qua sự cảm nhận, biết và sau đó mới hiểu được, tức là muốn hiểu được cái Lý, phải có những hiện tượng hữu hình xảy ra. Vì vậy, “Hiểu” của “Trí bình thường”, là hiệu quả của “Biết” và “cảm nhận”. Nó không có tính cách sáng tạo mà chỉ phỏng tạo.

Ngược lại, Thiên tài năng dùng Lý mà tạo ra những hiện tượng siêu hình và hữu hình. Cho nên, thiên tài năng sáng tạo từ cái Lý vô hình ra sự hình dung trong tư tưởng, ra những hiện tượng siêu hình không thuộc về Trí thông thường nữa. Nhưng, nó là phương tiện cũng là chức năng để Trí chuyển sang sự vận dụng của Siêu Trí, và cao hơn nữa là Siêu siêu Trí (Tuệ) trong sự sáng tạo với những gì mới lạ được coi như gương, mẫu để người đời học làm theo.

Sự chuyển hóa trong thiên tài năng ở mức cực cao đối với sự phát triển của Trí. Và tốc độ được vận dụng trong sinh hoạt cũng cực nhanh do ở sự sinh hoạt, sự vận dụng thường xuyên của tư tưởng nhiều hơn tình cảm và cảm giác. Trái lại, ở khả năng và tài năng, đời sống hoạt động nhiều về cảm giác và tình cảm với tốc độ chuyển động chậm và tương đối chậm hơn tư tưởng.

Với tốc độ chuyển động và sinh động chậm, sự tiến hóa của Trí khôn tương quan cũng chậm.

Mức tiến hóa của Trí khôn do dự vận dụng các chức năng của Trí. Hay là, do sự hiểu biết rõ hiệu quả mỗi chức năng của Trí, con người có thể chủ động tiến hóa tùy theo sự ứng dụng của mỗi chức năng của Trí.

So sánh bốn mức tiến hóa (bản năng, khả năng, tài năng, thiên tài năng) với những chức năng của Trí, liên quan đến sự vận dụng và sinh hoạt trong đời sống, mức tiến hóa được nhận rõ ở mỗi bậc.

Bản năng: vận dụng chức năng quan sát của Trí.

Khả năng: sử dụng chức năng quan sát và chức năng nhớ của Trí.

Tài năng: sử dụng chức năng quan sát, nhớ và suy nghĩ.

Thiên tài năng: sử dụng tất cả các chức năng của Trí bao gồm chức năng quan sát, nhớ, suy nghĩ, thông minh (Thông minh: là kết quả, hiệu quả của sự tiến hóa của Trí khôn do nhiều chức năng quan sát, nhớ, suy nghĩ của Trí tạo nên).

Nhưng, thiên tài năng chủ yếu sử dụng Trí thông minh để tự tiến hóa bằng cái Lý luôn luôn tiềm ẩn sinh động trong thể sáng của Trí. Từ sự sinh động của cái Lý vô hình, tuôn trào ra mọi tư tưởng cho mọi chức năng suy nghĩ mà không cần đến những hiện tượng hữu hình bên ngoài.

Hơn nữa, Siêu Trí và Tuệ được vận dụng. Đặc biệt là những tư tưởng xuất nguồn từ Tuệ, chúng tồn tại mãi, vì sự toàn hảo sinh động trong cái Lý – sự sinh động này chỉ có một tính là Sinh mãi, nhưng không bị Diệt.

Sự thông minh thụ đắc từ cái Lý của Tuệ mới thật là thiên tài năng. Tư tưởng được sinh ra từ “cái Lý của vũ trụ” được coi như mẫu số chung cho tất cả những tư tưởng khác xuất ra từ Trí và Siêu Trí. Chúng được coi như tử số, vì những tư tưởng này còn có thể so sánh được.

Bảng tóm tắt về mức tiến hóa, và các chức năng của Trí (Siêu Trí, Tuệ) được sử dụng:

BẢNG

Mức tiến hóa của con người khác nhau rất xa do sử dụng nhiều hay ít chức năng của Trí. Mỗi bậc liên quan đến mỗi cõi giới, từ cõi tự nhiên sang cõi siêu nhiên và siêu siêu nhiên trong sinh hoạt rất tự do và chủ động. Nhưng con người không nhận ra được, chỉ vì Trí khôn không quay vào trong để quan sát những sinh động vô hình, siêu hình, nên không nhận ra được mỗi chức năng thuộc mỗi cõi giới khác nhau.

Như, chức năng quan sát của các giác quan thuộc về cõi giới tự nhiên, nhưng “nhớ” lại thuộc về cõi giới siêu nhiên, dù những sự kiện, hiện tượng siêu hình được giữ trong bộ nhớ được cung cấp từ ngoại cảnh hữu hình. Chức năng suy nghĩ hoạt động trong cõi giới siêu siêu nhiên, từ cái Lý vô hình.

Mỗi chức năng của Trí được coi như phương tiện, hay là một cửa mở đóng để đưa sinh hoạt con người từ một cõi giới này sang một cõi giới khác trong một tiểu vũ trụ với một cấu trúc vi tế, đầy đủ như một đại vũ trụ.

Một cõi giới trong tiểu vũ trụ, tuy nhỏ và vô hình, nhưng mức tiến hóa của nó rất xa từ cõi giới này sang sinh hoạt của Trí ở một cõi giới khác.


(1) Ma túy, quỷ túy… làm mất Trí khôn. Mất Trí khôn con người mất hết quyền làm chủ, trở thành nô lệ cho đam mê.

Mất Trí khôn, Lương Tâm không còn, nhân tính mất, thú tính và quỷ tính thay thế cho sự khôn ngoan tạo nên những hành vi, hành động ác, độc, quỷ quái cho tha nhân.

Đã sao chép liên kết!