KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- Sự mầu nhiệm
- Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu: chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- a. Người bình thường
- b. Người Trí
- c. Người tiến hóa
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- a. Khí kém do hao tán
- b. Khí vượng
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- a. Khí hao
- b. Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sự minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
NHỮNG YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
Những yếu tố này bao gồm tất cả những gì liên quan đến dục cảm của nhục thân mà con người hưởng thụ. Chúng không có sức tiến hóa, đời sống như vậy, chỉ dựa trên bản năng nhiều hơn là vận dụng trí khôn để tiến hóa.
Đặc thù của đời sống vật chất là sự hưởng thụ của sự khoái cảm, dục cảm… dính dáng đến nhiều yếu tố như Thể, Lực, Hiện tượng sinh lý, bộ phận, không gian, cõi giới, mẫu người v.v…
Thể: trong nhục thân sinh động bốn thể linh thiêng Huyết (tương đương với Thủy bên ngoài nhục thân), Khí, Điện, Sự Sáng (thể sáng).
Khí, Điện sinh động trong Huyết, tạo nên cảm giác, nghĩa là có Huyết mới có cảm giác (1). Hay là, cảm giác được sinh hóa ra từ Huyết, trong đó sinh động hai thể nhẹ hơn, là Khí và Điện.
Nhưng con người ý thức, và nhận thức được cường độ của cảm giác, do Sự Sáng (thể sáng). Nó là bản chất, bản tính và tính năng sinh động trong Trí khôn. Nó sinh động trong 3 thể kia (Điện, Khí và Huyết), nhưng thể Thủy (Huyết) là sinh hoạt chính trong đời sống vật chất, hay là cảm giác sinh động nhiều hơn hết, so với tình cảm và tư tưởng.
Trí cảm nhận được cảm giác, thì sự sinh động của Huyết không thể cùng Sự Sáng của Trí khôn để sinh hóa ra tình cảm và tư tưởng.
Như vậy, các thể linh thiêng trong nhục thân ảnh hưởng, và xúc tác lẫn nhau để sinh hóa ra nhiều loại sinh hoạt. Và mỗi thể, cũng có thể sinh động riêng rẽ, do sự chủ động điều khiển của Trí con người.
Sự sinh động hỗn hợp của Huyết với cơ thể là một cảm giác thuần túy, không tạo nên ký ức. Những cảm giác đó làm tăng thêm sự thông minh của Trí, qua sự cảm nhận, và chúng không tạo nên bản ngã. Trái lại, nếu chúng gây ra sự ưa thích, trở nên ký ức, và được lặp đi lặp lại do Trí nhớ, chúng sẽ trở nên sự đam mê. Nó là một trong những nhân tố, và là yếu tố tạo nên bản ngã của đời sống vật chất.
Lực: Đời sống vật chất không giới hạn ở sự sinh động của nhục thân mà con người trực tiếp cảm nhận như hô hấp của phổi, sự tuần hoàn của máu nhờ vào sự co bóp của tim. Hay là, nó không bị thu hẹp ở sinh động hữu hình, mà còn được mở rộng ra cõi siêu hình và vô hình.
Sự sinh động trong sinh hoạt, và hoạt động của một đời sống, không cùng một tốc độ. Mỗi hoạt động có thể nhanh hoặc chậm, như tư tưởng nhanh hơn tình cảm, và cảm giác chậm hơn tình cảm.
Sự nhanh, chậm, do tốc độ, mà tốc độ lại do cường độ.
Cường độ của lực chính, sinh động trong đời sống vật chất, có tốc độ chậm và yếu. Vì chúng là lực của Huyết và Khí, dù sự xúc tác bên trong hai lực này là điện và thể sáng.
Được thể hiện dưới dạng hiện tượng sinh lý và vật lý, cảm giác và tình cảm có tốc độ chậm hơn tư tưởng. Biết được điểu này, khi con người để tâm quan sát, qua sự cảm nhận, và cảm nghiệm của Trí khôn.
Hai lực Huyết và Khí sinh động trong nhục thân, nhưng được coi như ngoại lực, và là năng lực hậu thiên. Chúng có chức năng phát triển nhục thân, và duy trì sức sống của nhục thân, qua sự hấp thu hai năng lượng cùng loại, trên và quanh địa cầu.
Như vậy, hai lực này liên quan, và ảnh hưởng đến thế giới tự nhiên bên ngoài, qua 5 giác quan. Đặc biệt là xúc giác, vị giác, khứu giác (da, miệng, mũi) trực tiếp hấp thu năng lượng để nuôi nhục thân. Và chính yếu, là nhục thân sinh hoạt bằng cảm giác. Nó là một loại lực, nhưng thuộc về tinh lực.
Hai loại lực này, chuyển động trong những cấu trúc vi tế như tế bào, thịt và các kinh…
Hiện tượng tâm sinh lý: đời sống vật chất không hoàn toàn thuộc về nhục thân. Nó liên quan đến những nhân tố khác. Chúng hoạt động, sinh động để biểu lộ sự toàn diện của một đời sống bao gồm cả Thân, Tâm, Trí. Nhưng Thân, Tâm trực tiếp can dự vào sinh hoạt của đời sống vật chất, tức là sinh hoạt của tâm sinh lý, của tình cảm và cảm giác.
Sự sinh hoạt trong đời sống này, đi ngược lại chức năng tiến hóa của Trí khôn, không làm tăng năng lượng tiên thiên (Điện, Sự Sáng) cho chính mình và cả vũ trụ nữa (2). Nói cách khác, nó không tăng triển Trí năng, qua sự suy nghĩ về những đề tài, và những Lý vô hình.
Tiến trình tiến hóa của Trí khôn theo chiều thuận, là từ ngoài vào trong. Từ những hiện tượng bên ngoài qua sự trưng thu của giác quan được đưa vào trong qua sự cảm nhận, ý thức, Biết và Hiểu. Từ cảm giác, tình cảm sinh hóa ra tư tưởng, hay là từ nhục thân, Tâm là tăng Trí năng.
Ngược lại, nếu Trí phục vục cho Tâm và Thân, hay là tư tưởng tạo nên tình cảm và cảm giác cho sự hưởng thụ, đó là sinh hoạt của đời sống vật chất.
Đó là sự diễn tiến theo chiều nghịch của năng lượng tiên thiên, bị tiêu hao cho năng lượng hậu thiên trong sinh hoạt của đời sống vật chất, tức là tâm linh và tinh thần phục vụ cho sự đòi hỏi của đời sống vật chất.
Sự hỗn hợp sinh động của tâm lý và sinh lý luôn xảy ra trong tính cách tương xứng, tương quan.
Như, trong phàm tâm, tình cảm của bản ngã dao động là phàm tâm.
Tình cảm nổi lên, cảm giác tương cảm, cũng sinh động theo. Vì vậy, nhục thân có sự khoái cảm, khoái dục, có đau, khổ.
Ngược lại, nếu cảm giác gây ra sự khoái cảm, khoái dục, đau, khổ, thì tình cảm cũng tương ứng, tương cảm sinh động, tức là có liên quan đến sự dao động của toàn thể nhục thân.
Sự tương ứng, tương cảm của tình cảm và cảm giác, hay của cảm giác và tình cảm, là một động lực của tâm sinh lý. Nhưng, nó không phải là nguyên lực. Chúng bị xúc tác bởi một thể cực nhẹ và mạnh hơn chúng, đó là Sự Sáng (thể sáng).
Thể sáng xúc tác vào cảm giác và tình cảm tạo nên sự hỗn hợp sinh động mang tính tâm sinh lý, và tính tương ứng, tương cảm… làm rung động nhục thân và Tâm con người.
Sự rung động này, do loại cảm giác sinh ra dục cảm, nặng nề nhất là nhục dục, và sau đó là vị dục.
Những cảm giác, do sự tiếp xúc của nhục thân với những hiện tượng trong thế giới tự nhiên, không sinh ra “Dục”, như những đổi thay của thời tiết, ngày đêm…
Loại cảm giác này không tạo nên ký ức lâu dài, chúng chỉ liên quan đến Trí quan sát, chúng kích thích Trí khôn – Và nhờ đó, Trí thông minh phát triển.
Ngược lại, loại cảm giác nào nẩy sinh ra tình cảm, tư tưởng, và tạo nên ký ức về cảm giác đó, tức là cảm giác nẩy sinh ra, có sự can dự của Tâm, Trí, sinh ra sự ưa thích về cảm giác đó.
Nó mang tính cách ký ức của một bản ngã. Và, vì chúng thuộc về bản ngã, ký ức này được nhắc nhớ lại do sự khơi dậy của động lực tâm sinh lý tiềm ẩn sinh động, khi con người còn bám vào bản ngã của mình.
Bộ phận: liên quan đến đời sống vật chất là sự sinh hoạt toàn diện của ba nhân tố là Thân, Tâm, Trí. Nhưng Tâm, Trí lại phục vụ cho Thân, hay là, nhục thân là nơi mà hầu hết những sinh hoạt hằng ngày phải xảy ra với 5 giác quan.
Sự trưng thu những hiện tượng hữu hình của thế giới bên ngoài không trực tiếp được đưa vào Trí suy nghĩ, để biến chúng thành kiến thức, để tạo nên sự thông minh. Đối với đời sống vật chất, các giác quan đều là phương tiện để sinh hóa ra “Dục”, chính yếu là vị dục và nhục dục. Hai loại này sinh ra sự khoái cảm, sự ưa thích của miệng, lưỡi và da.
Ba giác quan trên là mắt, tai, mũi là phương tiện, có chức năng tiến hóa đời sống tinh thần, tâm linh. Nhưng chúng cũng phục vụ cho đời sống vật chất, khi bản ngã con người biến chúng thành Dục (sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục và nhục dục), hay là thành nơi phát sinh ra Dục.
Nhục thân có 7 khiếu (3), trừ rún và hậu môn ra, 5 khiếu còn lại, là những nơi phát sinh ra Dục, trong đó có 2 khiếu tạo nên sự mất quân bình, sự xáo trộn của các tạng và phủ của nhục thân. Đó là miệng, và khiếu của bộ phận sinh dục.
Vị dục từ lưỡi, phát sinh từ tư tưởng; miệng đưa thức ăn, uống vào cơ thể, tạo nên thặng dư quá nhu cầu bình thường của cơ thể, không cân xứng với cấu trúc của xương.
Nhục dục cũng vậy, nếu vượt quá nhu cầu của tuổi tác, của nội lực của mỗi cá nhân, nó trở thành dâm dục. Nội lực dưới mức bình thường, nhục thân mỏi, mệt, yếu, dễ sinh bệnh và mau già.
Không gian: đời sống vật chất được giới hạn trong không gian, trong đó sinh động hai thể linh thiêng bao quanh địa cầu. Hay là, đời sống vật chất sinh hóa từ nhục thân liên hệ với ngoại cảnh, với sự tự nhiên của thế giới hữu hình (thế giới của giác quan) trong sự sinh động của Khí, Thủy (4), trong một không gian cực nhỏ so với vũ trụ bao la.
Sự mênh mang của vũ trụ và sự sống con người bao gồm và sinh động bằng nhiều yếu tố siêu hình và vô hình. Điều này bộc lộ ra tính đơn sơ trong không gian nhỏ của đời sống vật chất, dù cho con người cố gắng bồi dưỡng nhục thân với những tinh hoa của sinh vật, thực vật hay bằng những phương pháp tập luyện để tăng thêm sức sống cho Khí, Huyết.
Với đời sống này, yếu tố không gian và cả thời gian của địa cầu căn cứ trên nhục thân, và Trí lúc nào cũng hiện hữu.
Mẫu người: Mỗi đời sống tạo nên một mẫu người, với tâm hồn và sinh hoạt khác nhau.
Hai yếu tố này sinh ra thân phận của mỗi người. Hay là, con người tự tạo ra thân phận của chính mình.
Thân phận của con người sống bằng đời sống vật chất gắn liền với hai nguồn năng lực hậu thiên (Khí, Thủy) quanh địa cầu. Đời sống chi phối, và chịu ảnh hưởng của những biến động, thay đổi của hai nguồn năng lực này. Đó là sự may rủi, liên quan đến nhục thân, ta thường gọi là Phước, Họa.
Không giống như đời sống tinh thần và tâm linh, hai đời sống này có khả năng làm giảm, hay hơn nữa, là hóa giải được mức độ của Họa, nhờ vào sự sinh động của năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) qua tâm hồn (Tâm, Trí) và linh hồn. Hay là, nhờ vào sự sinh động của đức tính và đạo tính, người sống bằng hai đời sống này, gặp nhiều may mắn, thuận lợi, tức là Đạo, Đức sinh ra Phước, hóa giải được Họa.
Điều này cho ta thấy, con người với đời sống bằng năng lực tiên thiên (bằng tâm hồn, linh hồn) có khả năng chi phối, ảnh hưởng đến năng lực hậu thiên, và có thể thay đổi phong thủy trong môi trường nhân sinh, và trong cả môi trường thiên nhiên (5).
Chẳng linh cảm, tiên cảm, hay dù đã trải qua đời sống tinh thần, nhưng quay sang sống bằng dục cảm, nhục cảm, khoái cảm… mẫu người sống bằng đời sống vật chất, sinh hoạt thuộc loại phàm phu, thường chết một cách đột ngột.
Tính bắt đắc kỳ tử này xảy ra, không phải không có nguyên nhân. Nó được sinh hóa ra từ cái rủi, từ sự ô uế của dục cảm và nhục cảm, với sự vô luân sinh động bên trong.
Đó là một trong những nguyên nhân sinh ra Họa.
Nếu mẫu người này tăng lên, cái Họa cũng lớn theo. Dĩ nhiên, nó ảnh hưởng đến nhân sinh và môi trường.
(1) Nhục thân chết, máu ngưng lưu thông, nhục thân không còn cảm giác.
(2) Trí khôn con người là Sự Sáng (thể sáng). Khi Trí năng tăng triển, Sự Sáng trong Trí con người đồng bản chất, bản tính và tính năng của Sự Sáng của vũ trụ được tăng lên. Nó góp phần vào tiềm năng của vũ trụ.
(3) Người nam có 7 khiếu, người nữ có 9 khiếu, và cũng là một sinh tạo có cấu trúc phức tạp – một tác tạo hoàn chỉnh nhất, nhưng kém linh thiêng và mầu nhiệm hơn người nam.
(4) Khí bao gồm nhiều loại, và nhiều loại chất lỏng gọi chung là Thủy. Nhưng chủ yếu Khí Thủy có 3 tính: Thanh, Trược, Độc.
(5) Ta đã từng nghe và đọc, có nhiều siêu nhân tạo nên phong, vũ (gió, mưa…). Những nhân vật này cũng dùng đến năng lực tiên thiên để làm đổi thay năng lực hậu thiên, trái với thời tiết.
Người ta coi đó là quyền năng, phi thường. Nếu việc làm đó gây hại cho nhân sinh, hành động này tạo nên tội, làm người thực hiện mất Đức. Bởi vì, không ai được quyền tự do, làm mất sự tự do của người khác.