KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

TINH HOA CỦA ĐỜI SỐNG TINH THẦN VÀ TÂM LINH

Lương Tâm chưa hoạt động, thú tính con người vẫn còn, và khi nó can dự vào sinh hoạt con người, thú tính giảm dần. Đến một lúc nào, nó thường xuyên hoạt động, lúc đó từ nó toát ra những tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh.

Tinh hoa của đời sống tinh thần là những đức tính trong đó sinh động sự cao thượng và tính cách vô vi.

Người sống bằng đời sống tinh thần có nhiệm vụ làm tăng thêm đức tính, thăng hoa sự cao thượng.

Trên khía cạnh của sinh hoạt trong đời sống nó tăng triển Đức. Và Đức tăng triển, năng lực siêu nhiên sinh động, hóa giải được cái Họa cho thân nhân và tha nhân trong vùng.

Có thể nói rằng: “Sự cao thượng và tính cách vô vi là bản tính của đức tính”.

Một tâm hồn của đời sống tinh thần (1) thiếu một trong hai yếu tố này, thì đó chưa đúng là đời sống tinh thần.

Cao hơn tinh hoa của đời sống tinh thần, là tinh hoa của đời sống tâm linh.

Chúng là những đạo tính (tính tiềm ẩn trong Sự Sáng của vũ trụ) trong đó sinh động sự siêu thoát, sự sống, sự linh thiêng, sự mầu nhiệm trong Lý, Cơ, Năng, mà cùng đích là hòa nhập vào Nhất Nguyên, vào sự hằng hữu, vào qui luật của vũ trụ.

Qui luật này sinh hóa, chuyển hóa đến vô tận để tiến hóa.

Nhưng, trong sự tiến hóa mới có điều kỳ diệu xảy ra. Đó là sự đổi mới không ngừng mà trong đời sống con người, điều kỳ diệu này dễ nhận ra, “sự tăng trưởng của sự Hiểu, Biết”.

Con người thụ đắc hai điều này, có được “cái Có thật”, không mất và cũng không bị mất, đáng lẽ phải lạc quan, ngược lại luôn sống bi quan, thật đáng thương.

“Sự Hiểu, Biết” này là “cái Có thật” không thuộc về con người, vì khi nhục thân chết, nó vẫn tồn tại (vì nó là sự sinh động của năng lực vũ trụ). Sự tồn tại sinh động của nó thuộc về vũ trụ. Nhưng trong đó luôn biểu lộ ra sự linh thiêng và mầu nhiệm trong một đời sống tiến hóa nhất của con người, là đời sống tâm linh.

Đó là tinh hoa cao quí nhất, trong mọi tinh hoa mà con người có được.

Thật sự, sinh hoạt của đời sống tâm linh là gì?

- Là một đời sống trong đó, mọi sinh hoạt đều linh thiêng và mầu nhiệm.

Hay là, khi nào con người sống bằng sự linh thiêng và mầu nhiệm, người đó mới thật sự là một sinh linh, sống bằng đời sống tâm linh.

Hai yếu tố linh thiêng và mầu nhiệm trong đời sống biểu lộ rõ sự hòa nhập của tiểu vũ trụ vào đại vũ trụ với Dương và Âm của 4 thể linh thiêng và mầu nhiệm liên quan đến 3 cõi giới tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên, trong con người, là Thân, Tâm, Trí.

Sự hòa hợp của hai vũ trụ làm cho sinh hoạt của Thân, Tâm, Trí trở nên sinh hoạt của một chơn ngã.

Khi con người biết vận dụng chơn ngã trong đời sống, tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh không ngừng tiến hóa, thăng hoa. Và mức độ tiến hóa rất nhanh. Bởi vì, chơn ngã luôn vận dụng chơn Trí (Thuần Trí) trong mọi sinh hoạt và rõ được giá trị của mỗi tư tưởng.

Tư tưởng của một chơn ngã xuất nguồn từ Thuần Trí (chơn Trí, Siêu Trí và Siêu Siêu Trí) là siêu tư tưởng hay tư tưởng siêu nhiên và siêu siêu nhiên. Nó không liên quan đến cảm giác (Thân), đến tình cảm (Tâm), hay là nó không thuộc về bản ngã cá nhân.

Nếu tư tưởng xuất nguồn từ Lương Tâm, với mục đích tiến hóa tha nhân, tư tưởng đó có sự chơn chính.

Tóm lại:

“Nghe được một tư tưởng xuất nguồn từ đâu, ta mới biết được giá trị của nó”.

Biết được giá trị của nó, là nhận ra hiệu quả của nó.

Như trong khoa học, nghệ thuật, kỹ thuật, Nhân văn.

Hiệu quả của khoa học, kỹ thuật: là làm cho Trí tiến bộ

Nhân văn: làm cho con người tiến hóa về Tâm, Tánh, Trí, Lương Tâm (làm mất đi thú tính trong con người)

Tâm, Lương Tâm, Tánh, Trí… đưa con người vào đời sống tinh thần (vào tinh hoa của đời sống tinh thần) và chuyển hóa con người vào đời sống tâm linh.

Cái tinh hoa của đời sống tinh thần là Nhân văn.

Nó làm cho phong tục, tập quán phong phú về nhân tính và Thiên tính.

“Nghe được tư tưởng xuất nguồn từ đâu, ta cũng phân biệt được nó thuộc về sự thông minh của Trí hay Siêu Trí và Tuệ”.

- Sự thông minh của Trí diễn tiến từ sự quan sát, nhớ, suy nghĩ…, từ những hiện tượng hình ảnh hữu hình của thế giới tự nhiên mà hình thành, hay là còn nhờ đến những đối tượng bên ngoài để hiểu được cái Lý bên trong của chúng.

Sự thông minh của Siêu Trí cũng nhờ đến ba chức năng (quan sát, nhớ, suy nghĩ) và những hiện tượng siêu nhiên, cảm nhận qua ba trực giác quan mà nó được tạo nên.

Còn sự thông minh của Tuệ có được từ sự giác ngộ Nguyên Lý, hay là sự thông minh thụ đắc từ “sự Hiểu tức thì” của Sự Sáng của Tuệ.

Vì vậy, phàm nhân phải học trước, rồi sau đó mới thực hành. Trái lại, siêu nhân và đạo nhân, biết cách để đi tắt, “hành và học cùng một lúc”.

Những gì từ Thiên Lý (Nguyên Lý) mà ra, đạo nhân “Hiểu và Biết”, còn những gì loài người sáng tạo như ngôn ngữ, kỹ thuật, khoa học (dù rằng khoa học của loài người đều mang tính cách phỏng tạo), đạo nhân muốn biết cũng phải học, phải hỏi.

Ta có thể phân biệt sự thông minh của Trí và Tuệ qua sinh hoạt bình thường của một người, là:

- Mức độ thông minh của Trí được tạo nên bởi sự Biết và Hiểu qua phương tiện là nhục thân.

- Mức độ thông minh của Tuệ được tạo nên từ linh giác quan, nên thấy được toàn diện và “Hiểu tức thì” Nguyên Lý của vũ trụ qua Sự Sáng của vũ trụ trong con người.

Hay là, Sự Sáng của vũ trụ (sự sống) tự nó hiểu lấy cái nó chứa đựng, đó là Nguyên Lý của vũ trụ vậy”.

Người ta có thể phân biệt được sự thông minh của Trí và Tuệ, nhưng làm sao đo, và biết rõ được mức độ trí thức?

- Thông thường, người ta căn cứ trên kiến thức, kiến văn của một người mà nhận định, hay dựa vào kiến thức, ý thức của chức năng nhớ và suy nghĩ để đánh giá mức độ trí thức của một người.

Nhưng, nếu hai người cùng một học vị (thí dụ: nếu cả hai đều giáo sư tiến sĩ), làm sao phân biệt được mức độ trí thức?

- Phải căn cứ vào tốc độ hiểu nhanh của Trí thông minh về cái Lý.

Như vậy, sự hiểu của một đạo nhân khác với sự hiểu của một nhà khoa học như thế nào?

- Đạo nhân “hiểu tức thì và trực tiếp” cái Lý, và nói ra cái Lý mà không qua chứng thực, chứng minh cái Lý đó bằng những hiện tượng hữu hình hoặc siêu hình.

Trái lại, các nhà khoa học phải đi từ những hiện tượng, và những thành phần cấu tạo để tìm ra cái Lý.


(1) Nhiều chức nghiệp thuộc về đời sống tinh thần, nhưng tâm hồn của người có chức nghiệp lại không được cao thượng, và không có tính cách vô vi. Người này chẳng biết, chẳng hiểu, nên không hưởng được những tinh hoa của những đức tính.

Chẳng khác nào tu sĩ, thân mặc tu phục, nhưng tâm hồn chẳng tu tiến, chẳng hưởng được sự An, Lạc của tâm hồn, làm sao đi đến cùng đích, đó là giác ngộ và đắc Đạo.

Đã sao chép liên kết!