KHOA HỌC TÂM LINH

Khám phá sự tuyệt đối nhờ vào tính toàn diện của cả 3 loại khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

CHỮA TÂM BỆNH

Tâm bệnh là bệnh của tâm hồn do Tâm Trí gây ra. Một loại bệnh không có vi trùng, chỉ có hóa chất tác hại, do tình cảm và tư tưởng của 3 thể linh thiêng (Khí, Điện, Sự Sáng) sinh hóa ra từ bên trong và biểu hiện ở bên ngoài.

Chúng được coi như tai họa của con người, vì vậy, phải tìm cho thật đúng nguyên nhân sinh ra chúng. Cũng như các nhà khoa học luôn tìm kiếm nguyên nhân của thiên tai, địa họa, để con người có thể tránh được những tàn phá của chúng.

Bên ngoài, thiên tai, địa họa đâu phải từ Trời, từ tầng tĩnh khí giáng xuống, mà chúng khởi sinh từ Đất, từ lòng Đất, mà bốc lên cao, để rồi từ những đám mây, từ cao giáng xuống, trong đó có luôn cả sự đóng góp của tâm địa con người tỏa ra dưới dạng năng lượng.

Cũng vậy, mưa, bão, sấm, chớp… đâu phải từ cao mà có, nó phát sinh từ mặt địa cầu bốc lên.

Có người cứ nhìn lên trời cao mà trách việc Trời làm, sao không tự hỏi, ta đã làm gì để nhận lấy thiên tai?

Nhiều người có Tâm bệnh, cũng vậy, cứ luôn than, phiền bệnh trạng, mà không cố gắng tìm nguyên nhân, chỉ nói đến triệu chứng. Nhiều bệnh, dĩ nhiên là nhiều triệu chứng, tính phức tạp càng cao. Suy nghĩ trên sự phức tạp, hiệu quả không bao giờ được chính xác.

“Phức tạp ở những hiện tượng, đơn giản ở cái Lý, ở nguyên nhân”. Hay là, “dễ hiểu ở cái Lý, khó hiểu ở hiện tượng”.

Tâm bệnh cũng vậy, chẳng phải nó tự sinh ra được, do con người, tức là “từ Không sinh ra Có, và từ Có trở về Không”, thì Tâm bệnh chẳng còn, nhục thân hết đau đớn.

Từ cái “Không của tâm hồn đơn sơ, chẳng vướng ngoại cảnh, nội cảnh, tâm trạng, ký ức”, trẻ con sống vui vẻ, Thần của chúng ngày càng mạnh dần. Chúng không có sự thay đổi về huyết áp. “Thần”, là gốc của huyết áp. “Thần” ổn định, mạnh, huyết áp bình thường; “Thần” dao động, huyết áp đổi thay. Và sự đổi thay của huyết áp là triệu chứng của bệnh về tim, và cũng là Tâm bệnh (bệnh của tâm hồn).

Nội khí vượng (1), huyết thông, nên trẻ con không bị chứng nhức, mỏi ở cơ, bắp. Nội khí vượng, Khí thân được hình thành, chúng bắt đầu có mộng chiêm bao.

Nhịp tim thư giãn, nhẹ nhàng như trong giấc ngủ ngon. Nội khí mạnh: Thần, Hồn, Vía đều mạnh.

Tất cả, đó là “trạng thái vô tâm bệnh” của tuổi thơ, tức là, cái Không trong một đời sống đơn sơ.

Và “từ cái Không dẫn đến cái Có của đời sống phức tạp, do Tâm hồn dao động”, để sinh ra Tâm bệnh.

Tâm hồn dao động do ngoại cảnh, nội cảnh (hình ảnh trong tư tưởng), tâm trạng, ký ức…, thì Thần, Hồn Vía đều yếu.

Từ sự yếu kém của 3 bộ phận đó, mà bệnh tật phát sinh từ Khí, Huyết. Chúng bộc phát từ ngũ tạng, lục phủ. Và nặng hơn, là do nơi Điện (tư tưởng), hay Điện và Khí, thì bệnh làm suy yếu chức năng của Trí (chức năng “quan sát, nhớ, suy nghĩ”).

Bệnh của ngũ khí phát sinh từ ngũ tạng, ban ngày, Khí thân yếu kém, linh cảm không xảy ra. Ban đêm, nếu trước khi ngủ mà Tâm được An, thì có mộng.

Đó là “diễn tiến của cái Không đến cái có của Tâm bệnh”, tức là “từ sự đơn giản đến sự phức tạp của đời sống”.

Nay, “hoàn ngược quan niệm sống”, từ cái “Có phức tạp” đến cái “Không đơn giản”, nhưng “với cái Trí và cái Lý”, thì Tâm bệnh và nhục thân đau đớn sẽ tự nó tan biến.

Với quan niệm sống này, là “Có cũng như Không có”, “tâm hồn luôn trong trạng thái Hư vô”. Nhờ đó mà linh hồn hoạt động được.

Sự đổi thay này biểu lộ một sự tiến hóa, tuy không nhiều, nhưng nó tạo cho cuộc sống một sự An, Lạc trong những hiện tượng có chiều sâu trong cõi siêu nhiên. Và những hiện tượng đó trở thành kiến thức và dữ kiện siêu nhiên được lưu giữ trong Trí nhớ.

Như, sự khác thường xảy ra trong ban ngày, lúc tỉnh thức, tâm hồn mà Hư vô, thì linh hồn hoạt động được.

Kinh nghiệm cho thấy rằng:

“Tâm hồn Hư vô, Khí nhẹ tam tiêu,

Sinh động nội khí, hiện khí thân

Khí vượng, Huyết thịnh, trục căn bệnh

Trí sáng, linh cảm, đúng Linh hồn”.

“Hoàn ngược quan niệm sống”, từ “Có đến Không có” để hóa giải tâm bệnh ảnh hưởng đến nhục thân gồm có hai hướng, với tính tích cực, hoặc tiêu cực, tức là có tính chủ động, hoặc thụ động của người bệnh.

Tính tích cực hay chủ động mang tính lạc quan, tạo ra sức mạnh, ý chí… để tự chữa căn bệnh và tự cứu lấy mình.

Trái lại, tính tiêu cực, thụ động mang tính bi quan, sinh ra sự yếm thế, bỏ mặc, cũng ở vào trạng thái hư không của 3 hệ (Huyết, Khí, Điện), chỉ còn lại Sự Sáng sinh động, nó tác động vào căn bệnh, ảnh hưởng đến sự liên đới hoạt động hay làm ngưng tạm thời sự hoạt động của 3 thể kia mà căn bệnh được lành. Điều này cũng do tư tưởng.

Nó liên quan nhiều nhất đến sự tạm ngưng của nhân điện, liên hệ đến nhiều hiện tượng. Và hiện tượng này sẽ xảy ra như sau:

Nếu hệ của nhân điện tạm ngưng, thì hệ Khí, Huyết của nhục thân cũng ngưng theo. Nhưng Sự Sáng còn sinh động, thì nhục thân tạm chết sẽ sống lại. Và khi, nhân điện được phục hồi đầy đủ sức của nó, thì nhục thân khỏi bệnh.


Nguyên nhân của hệ thần kinh tạm ngưng

Do từ bên ngoài hoặc do từ trong

1. Từ bên ngoài

Do một hiện tượng vật lý có cường độ mạnh như điện giựt, sét đánh v.v… làm cho nhân điện bị ngưng, hay bị tán ra ngoài, làm mất khả năng tư tưởng.

Khí thân hoặc Điện thân toát ra khỏi nhục thân (2), nhưng Sự Sáng, sự sáng suốt của Trí vẫn còn sinh động ở não bộ. Mãi cho đến khi, Khí thân, Điện thân nhập trở lại nhục thân, lúc đó nhân điện hoạt động trở lại, sức sống của nhục thân được phục hồi, con người sống lại.

Có nhiều nguyên do khác, từ bên ngoài làm cho tâm hồn khiếp đảm, hệ điện đột ngột ngưng, nhục thân cũng chết giả.

2. Từ trong

Sinh hoạt liên quan đến hệ nhân điện như suy nghĩ, nhớ… ngưng hoạt động. Tư tưởng được Sự Sáng của Trí điều khiển cho ngưng động, hệ Khí không còn tình cảm dao động, cho nên “khí lực” trong nhục thân tăng lên. Hệ Huyết (máu) cũng vậy, không còn cảm giác dao động, vì vậy “Huyết lực” tăng do sự xúc tác của Sự Sáng, trong khi đó, Tim và Phổi đều ngưng hoạt động…

Hệ thần kinh tạm ngưng một cách thụ động hay chủ động, trong khi đó, nhục thân tạm chết, Sự Sáng với năng lực đầy đủ của nó, mới hóa giải được bệnh của nhục thân, do tâm hồn gây ra.

Đó là nhờ vào tính toàn năng của Sự Sáng. Hay là, chỉ có Sự Sáng trong não bộ mới có khả năng trừ lành mọi bệnh tật, mọi đau đớn.

Tại sao?

- Vì Sự Sáng là năng lực có khả năng tự tạo lấy năng lực cho chính nó, và là nguồn gốc tạo nên những Lực khác.

Nếu Lực khác mà thiếu, thì Sự Sáng bổ túc cho, và bệnh lui.

Chữa lành mọi bệnh tật, đau đớn bằng Sự Sáng, là một khoa cấp cứu (ít người biết và chưa được phổ biến rộng) mà phương thức của nó, là lấy năng lượng từ não để làm tăng năng lượng cho những thể khác (Huyết, Khí, Điện) yếu tiềm năng.

Nó không giống như phương pháp cấp cứu của châm cứu cổ truyền là cấp cứu không cần đến thuốc. Chỉ kích thích các huyệt, khơi động tiềm lực, và từ đó toát ra dược chất. Và dược chất này do Khí và nhân điện tạo ra, được đưa vào các kinh, mạch, dẫn tới nơi đau. Bệnh nhân bớt đau, và nếu nội lực được đầy đủ, bệnh sẽ khỏi.

Điều này chứng tỏ, bệnh nhân đã tự nhận năng lực ngay trong bản thân, nhưng phải cần đến một lương y.

Còn phương pháp “cấp cứu Tâm bệnh” bằng Sự Sáng, thì tự mình chữa lấy mình từ não bộ mà không phải nhờ đến một người khác, nhưng với một trạng thái khác thường, là “Vô ngã”.

Tâm bệnh là bệnh do bản ngã gây ra, tức là do tâm hồn gây ra.

Và chỉ có “Vô ngã” với Sự Sáng của Trí mới hóa giải được Tâm bệnh. Tâm bệnh không còn, thì nhục thân khỏe mạnh.

Trạng thái “Vô ngã” với Sự Sáng hóa giải được Tâm bệnh, đó cũng là hóa giải độc tố trong con người.

Hiện tượng này cũng đồng bản tính với sự hóa giải độc tố trong những môi trường thiên nhiên.

Trong hai vũ trụ, khi nào ngũ hành mà động, thì độc khí bộc phát.

Trong con người, khi “ngũ tạng khí” động, loạn, thì độc khí phát sinh. Và đó là một trong những nguyên nhân của bệnh.

Biển cũng vậy, khi có gió to sóng lớn, nó cũng tạo ra độc khí. Nó mất chức năng tẩy độc. Trái lại, khi nào biển lặng, nước biển mới có khả năng hóa giải độc tố của các dòng sông đưa vào nó.

Hóa giải được độc tố là nhờ ở muối. Hàm lượng của muối càng cao, thì độc tố càng được hóa giải nhanh. Nhưng chất mặn nhờ ở điện sinh hóa.

Con người cũng vậy, muốn hóa giải độc tố, hay là muốn hóa giải khí độc, phải dùng nhân điện, hoặc Sự Sáng của Trí và Tâm chơn không (3).

Muốn cho nhân điện sinh động, thì “Tâm phải chơn không” trước hết.

Tâm mà chơn không, thì nhân điện sinh động, Tâm có sự linh thiêng.

Nếu lấy Sự Sáng của Trí soi vào sự linh thiêng, thì có sự mầu nhiệm phát sinh.

Đến đây, ta thấy có hai cách hóa giải khí độc:

- Dùng điện để hóa giải.

- Dùng Sự Sáng và Điện để hóa giải.

1. Dùng điện để hóa giải:

- Dùng sự chơn không của Tâm, tức là dùng sự sinh động của điện để hóa giải khí độc.

2. Dùng Sự Sáng và Điện để hóa giải:

- Dùng Sự Sáng của Trí chơn không và điện để hóa giải khí độc.

Muốn hóa giải chất độc, thì chất dùng để hóa giải phải có một lực mạnh hơn chất bị hóa giải. Hay là, “khả năng xúc tác” để hóa giải, làm biến thể chất bị hóa giải, phải mạnh hơn chất bị hóa giải.

Theo khả năng xúc tác, thì:

- Sự Sáng có khả năng hóa giải độc tố sinh ra từ điện, khí, thủy (trong nhục thân là Huyết).

- Điện có khả năng hóa giải độc tố sinh ra từ Khí, Thủy.

- Khí có khả năng hóa giải độc tố sinh ra từ Thủy.

Nói cách khác là:

- Năng lực của cõi giới siêu siêu nhiên có khả năng hóa giải Lực của cõi giới siêu nhiên và tự nhiên.

- Năng lực của cõi giới siêu nhiên có khả năng hóa giải lực của cõi giới tự nhiên.

Trong chức năng sinh hóa, chuyển hóa để tiến hóa, mọi vật, tạo vật, có thể bị biến thể, biến thái, biến tướng, kể cả các loại năng lượng cũng vậy.

Sự biến thể của năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) sang một trạng thái khác, sinh động dưới dạng của sinh hoạt tinh thần và tâm linh là Đức và Đạo (đức tính và đạo tính) vẫn giữ nguyên tính năng của nó.

Tính năng của những đức tính và đạo tính có khả năng làm tăng phước tính, và hóa giải Họa cho nhục thân, tức là có thể hóa giải được sự chết có thời định của nhục thân.

Thực tế đã chứng minh, đâu phải những người sinh ra cùng ngày, tháng, năm, giờ… phải chết cùng một lúc. Vì trong giờ, còn có sự khác biệt về giây, phút nữa.

Cái chết nhục thân có giờ, có phút nhưng, những người khác không chết, vì điều này còn do nơi Tâm, Trí của họ, tức là “Đức và Đạo” trong đời sống của họ hóa giải được cái chết phải xảy ra trong nhục thân.

Hay là, “đời sống tâm linh và tinh thần của con người có thể hóa giải tai họa, đúng ra, nó phải xảy ra cho nhục thân của họ”.

Nhục thân chết, thông thường do bệnh, trừ ra cái chết bất ngờ do tai nạn.

Bệnh nào cũng làm cho nhục thân đau. Tâm bệnh làm cho Tâm thống và nhục thân đau. Nhưng, những người hiểu biết sâu sắc về cuộc sống, họ ngăn ngừa bệnh tâm lý bằng cách ứng dụng Triết lý và Đạo lý trong sinh hoạt.

Những phương thế chữa bệnh, ngừa hay hóa giải tai họa cho nhục thân, không thể làm cho nhục thân không khỏi chết được. Và ý muốn cho nhục thân được sinh tồn của một sinh tạo, thụ tạo không thể đảo lộn quy luật của Vận trong sự sáng tạo được. Nghĩa là nhục thân phải chết, khí số (4) phải hết. Nhưng dấu hiệu nào cho con người thấy khí số của nhục thân gần hết?

- Với người bình thường, không có bệnh trong nhục thân, thì mức trường thọ của nhục thân tùy thuộc vào Lực của nội khí.

Lực của nội khí để tăng mức trường thọ tùy thuộc vào Dương khí lực.

Dương khí lực còn mạnh, thì sức sống của nhục thân còn. Nhưng, khi Dương khí lực yếu, kém, thì sức sống của nhục thân chẳng còn bao lâu, tức là nhục thân sắp phải chết.

Những dấu hiệu cho thấy Dương khí lực yếu là:

- Âm thanh trong tiếng nói kém lực. Không đủ sức để nói lâu, để nói hết một câu dài.

- Bàn chân, ngón chân thường bị lạnh, tê cóng. Đôi chân không đủ lực để đi, đứng, nên hay té, ngã…


(1) Nội khí (cũng gọi là Khí) được tạo nên từ nhiều loại Khí, từ nguyên khí được di truyền từ cha mẹ, và những loại khí khác được đưa vào thân thể, chính yếu là không khí.

(2) Trong khi nhục thân tạm chết do Khí thân và Điện thân toát ra, hai loại thân này sinh động, hoạt động, và có khả năng tiếp xúc với các sinh linh khác trong thế giới đó. Chúng có thể học hỏi những kiến thức siêu nhiên bằng Siêu Trí do những sinh linh truyền đạt lại. Vì vậy, khi nhục thân sống lại, người này có thể dùng những khả năng phi thường do sự truyền đạt.

(3) Trẻ thơ, Tâm chưa động, loạn, chỉ có bệnh do bên ngoài đưa vào, nhưng chưa có bệnh do tâm trạng sinh ra.

Khi lớn lên, có tâm trạng. Nếu nhẹ, thì sinh ra phiền não. Và nếu nặng hơn, thì chính những tâm trạng là nguyên nhân của bệnh, đặc biệt là Tâm bệnh.

(4) Số của năm mà nhục thân thọ được, sống được hay là, khả năng sinh động của Khí lực trong nhục thân.

Đã sao chép liên kết!