KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- 3. Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- 4. Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào?
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- 1. Sự tiến hóa của sinh linh dưới dạng nhục thân
- 2. Bao giờ một loại thân (khí thân, điện thân, quang thân) mới hoạt động được với khả năng, bản năng của chính nó?
- 3. Sự sinh hóa của sự mầu nhiệm và sự liên quan của sự mầu nhiệm
- a. Mầu nhiệm của sự sinh hóa
- b. Tính cách mầu nhiệm
- c. Sự mầu nhiệm trong những bộ phận vô hình
- 1. Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm hướng dẫn những bộ phận thuộc về phàm tâm
- 2. Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm của con người liên quan đến Thiên Cơ, Thiên Lý
- 3. Hoạt động của những bộ phận vô hình
- 4. Những bộ phận vô hình liên quan đến luật sinh hóa và chuyển hóa, đến giá trị tinh thần, tâm linh
- 5. Hiệu quả của những bộ phận vô hình trong các loại thân nhẹ
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu - chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và trong không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sự minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- PHƯƠNG TIỆN VÀ CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- 1. Chiều sâu của phương tiện và cứu cánh
- 2. Cấp bậc tiến hóa căn cứ trên phương tiện và cứu cánh
- a. Sự khác biệt về mức linh thiêng và mầu nhiệm giữa giới tính
- b. Cấp bậc tiến hóa căn cứ trên phương tiện
- c. Sinh hoạt và Vận tương quan
- VẬN
- 1. Vận có ưu thế hơn tài năng
- 2. Phước và Họa
- 3. Thời gian xảy ra Phước, Họa. Và thời hạn của nó
- 4. Phước, Họa không phải là những từ trừu tượng, nó là một thực tế liên quan đến những hiện tượng vật lý và sinh lý
- 5. Sự tương quan trong Phước, Họa
- 6. Hóa giải Họa bằng Phước
- 7. Hiệu quả của việc làm từ Phước, Đức, Đạo
- a. Nguồn gốc của Đức tính sinh ra Phước
- b. Bản thể, bản tính của Đức Bi
- c. Tính vĩ đại trong hoạt động tích cực của đức tính
- NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
- A. SỰ TỒN TẠI CÓ THỜI HẠN VÀ VĨNH CỬU
- 1. Ứng dụng mức tiến hóa
- a. Chức năng, bộ phận nào làm cho con người tiến hóa thành sinh linh?
- b. Mức cao của hạnh phúc con người nhờ vào sự ứng dụng mức tiến hóa của hai đời sống tinh thần và tâm linh
- c. Nhưng sự linh thiêng và mầu nhiệm ở đâu trong con người
- d. Dấu hiệu của sự linh thiêng và mầu nhiệm
- e. Linh thiêng và mầu nhiệm trong sự sáng nguyên thủy
- 2. Sự mở rộng trong mức tiến hóa
- a. Làm sao thấy được tiền kiếp
- b. Tiền căn và Nghiệp
- 1. Nghiệp trong dạng Họa, Phước, Đức
- 2. Nghiệp trong dạng Họa, Phước, Đức do tâm hồn sinh hóa
- 3. Tâm Trí thay đổi Phước, Họa liên quan đến Nghiệp
- 4. “Số, sự sống và sức sống’’ liên quan đến Nghiệp
- 5. Trạng thái siêu nhiên trong sinh hoạt
- 6. Năng lực tự nhiên và siêu nhiên, toát ra từ cái chết của nhục thân, sinh động dưới nhiều dạng
- 7. May mắn là một động lực vô hình
- 8. Việc làm của con người và Tạo hóa
- a. Bản thể của tiểu vũ trụ
- b. Tâm địa con người hiện ra ở đâu?
- c. Thiện Ác sinh hóa từ tâm hồn
- d. Thú tính, nhân tính cũng có điểm tương đồng
- e. Sự gia tăng của Thiện, Ác
- 3. Mức tiến hóa trong sự biểu hiện của tiền căn trong hiện tại
- a. Số mạng con người liên quan đến quá khứ và hiện tại
- b. Biểu hiện mức tiến hóa của quá khứ trong hiện tại
- c. Tiền căn và Tâm đạo
- B. SỰ VĨNH CỬU CỦA HAI VŨ TRỤ
- 1. Những sinh động trong sự vĩnh cửu
- a. Sự linh thiêng và mầu nhiệm trong con người sinh động ở đâu và ở “thể” nào?
- b. Sự linh thiêng và mầu nhiệm trong tiểu vũ trụ
- 2. Đạo tính trong 2 vũ trụ
- 3. Tính vĩnh cửu trong thực tại và thể sáng
- a. Trở ngại và thuận lợi cho tính vĩnh cửu
- b. Phương tiện đi vào sự vĩnh cửu
- 1. Lựa chọn giá trị để tiến hóa
- 2. Ba đời sống mở rộng
- a. Chức năng xúc tác trong sự tiến hóa
- b. Sự khác biệt giữa kiến thức phiến diện và toàn Tri trong sự tiến hóa
- C. SỰ KỲ DIỆU, HUYỀN BÍ TRONG NHỤC THÂN
- 1. Những biến đổi kỳ diệu
- a. Đời sống con người là sự tổng hợp toàn hảo của ba bộ phận Thân, Tâm, Trí
- b. Trong thân thể, chức năng sinh hóa từ trên chuyển xuống dưới và sự chuyển hóa từ dưới chuyển lên trên
- c. Hiện tượng kỳ diệu, và huyền bí trong nhục thân liên quan đến vũ trụ xảy ra trong con người
- d. Sự phát triển của nhục thân trải qua nhiều trạng thái
- 2. Sự sinh hóa và chuyển hóa của nội lực trong nhục thân
- 3. Các loại lực
- D. TUỔI THỌ VÀ TRẠNG THÁI SỨC KHỎE CỦA NHỤC THÂN
- 1. Chết, ngủ, thức
- a. Với những người không tập, luyện nội lực qua các phương pháp, thì mơ, và đặc biệt là mộng, họ nhận ra được các trực giác quan hoạt động trong khi họ ngủ
- b. Trong mộng có siêu kiến (sự thấy siêu nhiên của các trực giác quan hoặc của linh giác quan) về những hình ảnh, hiện tượng siêu nhiên là hiệu quả của sự thư giãn của Thân, Tâm, Trí
- c. Quang thân không phải tự nhiên được hình thành, nó nhờ vào sự hoạt động duy nhất của thể sáng
- d. Siêu siêu ý thức là mức cực cao mà con người đạt được
- e. Người nào hiểu được con người được sinh ra để làm gì, thì người đó có thể tiến hóa rất nhanh
- g. Thu hồi năng lượng của con người gồm có 2 cách xảy ra trong hai trạng thái ngủ và thức
- h. “Khí” và “tính của Khí”, Điện và Sự Sáng
- i. Sự cảm ứng của con người với trược tố và độc tố của bốn thể linh thiêng
- k. Nhục thân con người kỳ diệu và huyền bí, nhưng con người ít quan tâm, khám phá ra những điều đó để tiến hóa nhanh
- 2. Sức khỏe và bệnh
- a. Sức khoẻ và bệnh liên quan trực tiếp đến sự toàn diện của sinh hoạt con người
- b. Sức khỏe con người phần lớn nhờ vào 3 hệ thống quan trọng, là:
- c. Sự yếu mạnh của nhục thân liên quan đến Tâm và Trí
- d. Sự tăng, giảm mức độ đau đớn và khoái cảm của nhục thân
- e. Đời sống con người liên quan đến Trời Đất, chứa đựng năng lượng hậu thiên và tiên thiên
- 3. Thân bệnh, Tâm bệnh và cách chữa
- a. Tâm bệnh và phản ứng hóa chất
- b. Chữa Tâm bệnh
- E. CÁC LOẠI “NGÔ
- 1. Bản ngã
- a. Nguồn gốc của Dục
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
CHỮA TÂM BỆNH
Tâm bệnh là bệnh của tâm hồn do Tâm Trí gây ra. Một loại bệnh không có vi trùng, chỉ có hóa chất tác hại, do tình cảm và tư tưởng của 3 thể linh thiêng (Khí, Điện, Sự Sáng) sinh hóa ra từ bên trong và biểu hiện ở bên ngoài.
Chúng được coi như tai họa của con người, vì vậy, phải tìm cho thật đúng nguyên nhân sinh ra chúng. Cũng như các nhà khoa học luôn tìm kiếm nguyên nhân của thiên tai, địa họa, để con người có thể tránh được những tàn phá của chúng.
Bên ngoài, thiên tai, địa họa đâu phải từ Trời, từ tầng tĩnh khí giáng xuống, mà chúng khởi sinh từ Đất, từ lòng Đất, mà bốc lên cao, để rồi từ những đám mây, từ cao giáng xuống, trong đó có luôn cả sự đóng góp của tâm địa con người tỏa ra dưới dạng năng lượng.
Cũng vậy, mưa, bão, sấm, chớp… đâu phải từ cao mà có, nó phát sinh từ mặt địa cầu bốc lên.
Có người cứ nhìn lên trời cao mà trách việc Trời làm, sao không tự hỏi, ta đã làm gì để nhận lấy thiên tai?
Nhiều người có Tâm bệnh, cũng vậy, cứ luôn than, phiền bệnh trạng, mà không cố gắng tìm nguyên nhân, chỉ nói đến triệu chứng. Nhiều bệnh, dĩ nhiên là nhiều triệu chứng, tính phức tạp càng cao. Suy nghĩ trên sự phức tạp, hiệu quả không bao giờ được chính xác.
“Phức tạp ở những hiện tượng, đơn giản ở cái Lý, ở nguyên nhân”. Hay là, “dễ hiểu ở cái Lý, khó hiểu ở hiện tượng”.
Tâm bệnh cũng vậy, chẳng phải nó tự sinh ra được, do con người, tức là “từ Không sinh ra Có, và từ Có trở về Không”, thì Tâm bệnh chẳng còn, nhục thân hết đau đớn.
Từ cái “Không của tâm hồn đơn sơ, chẳng vướng ngoại cảnh, nội cảnh, tâm trạng, ký ức”, trẻ con sống vui vẻ, Thần của chúng ngày càng mạnh dần. Chúng không có sự thay đổi về huyết áp. “Thần”, là gốc của huyết áp. “Thần” ổn định, mạnh, huyết áp bình thường; “Thần” dao động, huyết áp đổi thay. Và sự đổi thay của huyết áp là triệu chứng của bệnh về tim, và cũng là Tâm bệnh (bệnh của tâm hồn).
Nội khí vượng (1), huyết thông, nên trẻ con không bị chứng nhức, mỏi ở cơ, bắp. Nội khí vượng, Khí thân được hình thành, chúng bắt đầu có mộng chiêm bao.
Nhịp tim thư giãn, nhẹ nhàng như trong giấc ngủ ngon. Nội khí mạnh: Thần, Hồn, Vía đều mạnh.
Tất cả, đó là “trạng thái vô tâm bệnh” của tuổi thơ, tức là, cái Không trong một đời sống đơn sơ.
Và “từ cái Không dẫn đến cái Có của đời sống phức tạp, do Tâm hồn dao động”, để sinh ra Tâm bệnh.
Tâm hồn dao động do ngoại cảnh, nội cảnh (hình ảnh trong tư tưởng), tâm trạng, ký ức…, thì Thần, Hồn Vía đều yếu.
Từ sự yếu kém của 3 bộ phận đó, mà bệnh tật phát sinh từ Khí, Huyết. Chúng bộc phát từ ngũ tạng, lục phủ. Và nặng hơn, là do nơi Điện (tư tưởng), hay Điện và Khí, thì bệnh làm suy yếu chức năng của Trí (chức năng “quan sát, nhớ, suy nghĩ”).
Bệnh của ngũ khí phát sinh từ ngũ tạng, ban ngày, Khí thân yếu kém, linh cảm không xảy ra. Ban đêm, nếu trước khi ngủ mà Tâm được An, thì có mộng.
Đó là “diễn tiến của cái Không đến cái có của Tâm bệnh”, tức là “từ sự đơn giản đến sự phức tạp của đời sống”.
Nay, “hoàn ngược quan niệm sống”, từ cái “Có phức tạp” đến cái “Không đơn giản”, nhưng “với cái Trí và cái Lý”, thì Tâm bệnh và nhục thân đau đớn sẽ tự nó tan biến.
Với quan niệm sống này, là “Có cũng như Không có”, “tâm hồn luôn trong trạng thái Hư vô”. Nhờ đó mà linh hồn hoạt động được.
Sự đổi thay này biểu lộ một sự tiến hóa, tuy không nhiều, nhưng nó tạo cho cuộc sống một sự An, Lạc trong những hiện tượng có chiều sâu trong cõi siêu nhiên. Và những hiện tượng đó trở thành kiến thức và dữ kiện siêu nhiên được lưu giữ trong Trí nhớ.
Như, sự khác thường xảy ra trong ban ngày, lúc tỉnh thức, tâm hồn mà Hư vô, thì linh hồn hoạt động được.
Kinh nghiệm cho thấy rằng:
“Tâm hồn Hư vô, Khí nhẹ tam tiêu,
Sinh động nội khí, hiện khí thân
Khí vượng, Huyết thịnh, trục căn bệnh
Trí sáng, linh cảm, đúng Linh hồn”.
“Hoàn ngược quan niệm sống”, từ “Có đến Không có” để hóa giải tâm bệnh ảnh hưởng đến nhục thân gồm có hai hướng, với tính tích cực, hoặc tiêu cực, tức là có tính chủ động, hoặc thụ động của người bệnh.
Tính tích cực hay chủ động mang tính lạc quan, tạo ra sức mạnh, ý chí… để tự chữa căn bệnh và tự cứu lấy mình.
Trái lại, tính tiêu cực, thụ động mang tính bi quan, sinh ra sự yếm thế, bỏ mặc, cũng ở vào trạng thái hư không của 3 hệ (Huyết, Khí, Điện), chỉ còn lại Sự Sáng sinh động, nó tác động vào căn bệnh, ảnh hưởng đến sự liên đới hoạt động hay làm ngưng tạm thời sự hoạt động của 3 thể kia mà căn bệnh được lành. Điều này cũng do tư tưởng.
Nó liên quan nhiều nhất đến sự tạm ngưng của nhân điện, liên hệ đến nhiều hiện tượng. Và hiện tượng này sẽ xảy ra như sau:
Nếu hệ của nhân điện tạm ngưng, thì hệ Khí, Huyết của nhục thân cũng ngưng theo. Nhưng Sự Sáng còn sinh động, thì nhục thân tạm chết sẽ sống lại. Và khi, nhân điện được phục hồi đầy đủ sức của nó, thì nhục thân khỏi bệnh.
Nguyên nhân của hệ thần kinh tạm ngưng
Do từ bên ngoài hoặc do từ trong
1. Từ bên ngoài
Do một hiện tượng vật lý có cường độ mạnh như điện giựt, sét đánh v.v… làm cho nhân điện bị ngưng, hay bị tán ra ngoài, làm mất khả năng tư tưởng.
Khí thân hoặc Điện thân toát ra khỏi nhục thân (2), nhưng Sự Sáng, sự sáng suốt của Trí vẫn còn sinh động ở não bộ. Mãi cho đến khi, Khí thân, Điện thân nhập trở lại nhục thân, lúc đó nhân điện hoạt động trở lại, sức sống của nhục thân được phục hồi, con người sống lại.
Có nhiều nguyên do khác, từ bên ngoài làm cho tâm hồn khiếp đảm, hệ điện đột ngột ngưng, nhục thân cũng chết giả.
2. Từ trong
Sinh hoạt liên quan đến hệ nhân điện như suy nghĩ, nhớ… ngưng hoạt động. Tư tưởng được Sự Sáng của Trí điều khiển cho ngưng động, hệ Khí không còn tình cảm dao động, cho nên “khí lực” trong nhục thân tăng lên. Hệ Huyết (máu) cũng vậy, không còn cảm giác dao động, vì vậy “Huyết lực” tăng do sự xúc tác của Sự Sáng, trong khi đó, Tim và Phổi đều ngưng hoạt động…
Hệ thần kinh tạm ngưng một cách thụ động hay chủ động, trong khi đó, nhục thân tạm chết, Sự Sáng với năng lực đầy đủ của nó, mới hóa giải được bệnh của nhục thân, do tâm hồn gây ra.
Đó là nhờ vào tính toàn năng của Sự Sáng. Hay là, chỉ có Sự Sáng trong não bộ mới có khả năng trừ lành mọi bệnh tật, mọi đau đớn.
Tại sao?
- Vì Sự Sáng là năng lực có khả năng tự tạo lấy năng lực cho chính nó, và là nguồn gốc tạo nên những Lực khác.
Nếu Lực khác mà thiếu, thì Sự Sáng bổ túc cho, và bệnh lui.
Chữa lành mọi bệnh tật, đau đớn bằng Sự Sáng, là một khoa cấp cứu (ít người biết và chưa được phổ biến rộng) mà phương thức của nó, là lấy năng lượng từ não để làm tăng năng lượng cho những thể khác (Huyết, Khí, Điện) yếu tiềm năng.
Nó không giống như phương pháp cấp cứu của châm cứu cổ truyền là cấp cứu không cần đến thuốc. Chỉ kích thích các huyệt, khơi động tiềm lực, và từ đó toát ra dược chất. Và dược chất này do Khí và nhân điện tạo ra, được đưa vào các kinh, mạch, dẫn tới nơi đau. Bệnh nhân bớt đau, và nếu nội lực được đầy đủ, bệnh sẽ khỏi.
Điều này chứng tỏ, bệnh nhân đã tự nhận năng lực ngay trong bản thân, nhưng phải cần đến một lương y.
Còn phương pháp “cấp cứu Tâm bệnh” bằng Sự Sáng, thì tự mình chữa lấy mình từ não bộ mà không phải nhờ đến một người khác, nhưng với một trạng thái khác thường, là “Vô ngã”.
Tâm bệnh là bệnh do bản ngã gây ra, tức là do tâm hồn gây ra.
Và chỉ có “Vô ngã” với Sự Sáng của Trí mới hóa giải được Tâm bệnh. Tâm bệnh không còn, thì nhục thân khỏe mạnh.
Trạng thái “Vô ngã” với Sự Sáng hóa giải được Tâm bệnh, đó cũng là hóa giải độc tố trong con người.
Hiện tượng này cũng đồng bản tính với sự hóa giải độc tố trong những môi trường thiên nhiên.
Trong hai vũ trụ, khi nào ngũ hành mà động, thì độc khí bộc phát.
Trong con người, khi “ngũ tạng khí” động, loạn, thì độc khí phát sinh. Và đó là một trong những nguyên nhân của bệnh.
Biển cũng vậy, khi có gió to sóng lớn, nó cũng tạo ra độc khí. Nó mất chức năng tẩy độc. Trái lại, khi nào biển lặng, nước biển mới có khả năng hóa giải độc tố của các dòng sông đưa vào nó.
Hóa giải được độc tố là nhờ ở muối. Hàm lượng của muối càng cao, thì độc tố càng được hóa giải nhanh. Nhưng chất mặn nhờ ở điện sinh hóa.
Con người cũng vậy, muốn hóa giải độc tố, hay là muốn hóa giải khí độc, phải dùng nhân điện, hoặc Sự Sáng của Trí và Tâm chơn không (3).
Muốn cho nhân điện sinh động, thì “Tâm phải chơn không” trước hết.
Tâm mà chơn không, thì nhân điện sinh động, Tâm có sự linh thiêng.
Nếu lấy Sự Sáng của Trí soi vào sự linh thiêng, thì có sự mầu nhiệm phát sinh.
Đến đây, ta thấy có hai cách hóa giải khí độc:
- Dùng điện để hóa giải.
- Dùng Sự Sáng và Điện để hóa giải.
1. Dùng điện để hóa giải:
- Dùng sự chơn không của Tâm, tức là dùng sự sinh động của điện để hóa giải khí độc.
2. Dùng Sự Sáng và Điện để hóa giải:
- Dùng Sự Sáng của Trí chơn không và điện để hóa giải khí độc.
Muốn hóa giải chất độc, thì chất dùng để hóa giải phải có một lực mạnh hơn chất bị hóa giải. Hay là, “khả năng xúc tác” để hóa giải, làm biến thể chất bị hóa giải, phải mạnh hơn chất bị hóa giải.
Theo khả năng xúc tác, thì:
- Sự Sáng có khả năng hóa giải độc tố sinh ra từ điện, khí, thủy (trong nhục thân là Huyết).
- Điện có khả năng hóa giải độc tố sinh ra từ Khí, Thủy.
- Khí có khả năng hóa giải độc tố sinh ra từ Thủy.
Nói cách khác là:
- Năng lực của cõi giới siêu siêu nhiên có khả năng hóa giải Lực của cõi giới siêu nhiên và tự nhiên.
- Năng lực của cõi giới siêu nhiên có khả năng hóa giải lực của cõi giới tự nhiên.
Trong chức năng sinh hóa, chuyển hóa để tiến hóa, mọi vật, tạo vật, có thể bị biến thể, biến thái, biến tướng, kể cả các loại năng lượng cũng vậy.
Sự biến thể của năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) sang một trạng thái khác, sinh động dưới dạng của sinh hoạt tinh thần và tâm linh là Đức và Đạo (đức tính và đạo tính) vẫn giữ nguyên tính năng của nó.
Tính năng của những đức tính và đạo tính có khả năng làm tăng phước tính, và hóa giải Họa cho nhục thân, tức là có thể hóa giải được sự chết có thời định của nhục thân.
Thực tế đã chứng minh, đâu phải những người sinh ra cùng ngày, tháng, năm, giờ… phải chết cùng một lúc. Vì trong giờ, còn có sự khác biệt về giây, phút nữa.
Cái chết nhục thân có giờ, có phút nhưng, những người khác không chết, vì điều này còn do nơi Tâm, Trí của họ, tức là “Đức và Đạo” trong đời sống của họ hóa giải được cái chết phải xảy ra trong nhục thân.
Hay là, “đời sống tâm linh và tinh thần của con người có thể hóa giải tai họa, đúng ra, nó phải xảy ra cho nhục thân của họ”.
Nhục thân chết, thông thường do bệnh, trừ ra cái chết bất ngờ do tai nạn.
Bệnh nào cũng làm cho nhục thân đau. Tâm bệnh làm cho Tâm thống và nhục thân đau. Nhưng, những người hiểu biết sâu sắc về cuộc sống, họ ngăn ngừa bệnh tâm lý bằng cách ứng dụng Triết lý và Đạo lý trong sinh hoạt.
Những phương thế chữa bệnh, ngừa hay hóa giải tai họa cho nhục thân, không thể làm cho nhục thân không khỏi chết được. Và ý muốn cho nhục thân được sinh tồn của một sinh tạo, thụ tạo không thể đảo lộn quy luật của Vận trong sự sáng tạo được. Nghĩa là nhục thân phải chết, khí số (4) phải hết. Nhưng dấu hiệu nào cho con người thấy khí số của nhục thân gần hết?
- Với người bình thường, không có bệnh trong nhục thân, thì mức trường thọ của nhục thân tùy thuộc vào Lực của nội khí.
Lực của nội khí để tăng mức trường thọ tùy thuộc vào Dương khí lực.
Dương khí lực còn mạnh, thì sức sống của nhục thân còn. Nhưng, khi Dương khí lực yếu, kém, thì sức sống của nhục thân chẳng còn bao lâu, tức là nhục thân sắp phải chết.
Những dấu hiệu cho thấy Dương khí lực yếu là:
- Âm thanh trong tiếng nói kém lực. Không đủ sức để nói lâu, để nói hết một câu dài.
- Bàn chân, ngón chân thường bị lạnh, tê cóng. Đôi chân không đủ lực để đi, đứng, nên hay té, ngã…
(1) Nội khí (cũng gọi là Khí) được tạo nên từ nhiều loại Khí, từ nguyên khí được di truyền từ cha mẹ, và những loại khí khác được đưa vào thân thể, chính yếu là không khí.
(2) Trong khi nhục thân tạm chết do Khí thân và Điện thân toát ra, hai loại thân này sinh động, hoạt động, và có khả năng tiếp xúc với các sinh linh khác trong thế giới đó. Chúng có thể học hỏi những kiến thức siêu nhiên bằng Siêu Trí do những sinh linh truyền đạt lại. Vì vậy, khi nhục thân sống lại, người này có thể dùng những khả năng phi thường do sự truyền đạt.
(3) Trẻ thơ, Tâm chưa động, loạn, chỉ có bệnh do bên ngoài đưa vào, nhưng chưa có bệnh do tâm trạng sinh ra.
Khi lớn lên, có tâm trạng. Nếu nhẹ, thì sinh ra phiền não. Và nếu nặng hơn, thì chính những tâm trạng là nguyên nhân của bệnh, đặc biệt là Tâm bệnh.
(4) Số của năm mà nhục thân thọ được, sống được hay là, khả năng sinh động của Khí lực trong nhục thân.
