KHOA HỌC TÂM LINH

Khám phá sự tuyệt đối nhờ vào tính toàn diện của cả 3 loại khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

NĂNG LỰC TIÊN THIÊN THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG TỪ TRẠNG THÁI HƯ VÔ

“Trạng thái hư vô” không thể tự có được. Nó là kết quả của sự điều khiển của Trí thông minh, khi Sự Sáng hoàn toàn tụ về não bộ, không còn can dự vào năng lực hậu thiên. Từ đó, có sự xuất hiện mới.

Chức năng của Trí thông minh là Hiểu. Nó là mức tiến hóa cực cao của Trí, nhưng so với Siêu Trí và Siêu Siêu Trí, sự Hiểu của Trí chỉ tương đối. Nhưng, nhờ ở trạng thái Hư vô, sự Hiểu của con người tăng lên mức tương đối cao, và tuyệt đối của Siêu Trí và của Siêu Siêu Trí (Tuệ).

Với Trí thường, sự Hiểu của Trí thông minh là tuyệt đối so với cái Biết và ý thức. Hai chức năng này chỉ ở mức tương đối.

Lấy cái tuyệt đối để quan sát cái tương đối thì rất dễ. Ngược lại, dùng cái tương đối để khám phá ra cái tuyệt đối, thì rất khó.

Nếu, lấy sự Hiểu mà quan sát sự Biết và ý thức, thì hai chức năng này tăng thêm mức hiệu quả của nó.

Cũng vậy, từ trạng thái Hư vô, Sự Sáng tụ về não bộ, vỏ não ngưng hoạt động, Trí thường cũng ngưng luôn. Với sự sinh động hoàn toàn thuộc về năng lực tiên thiên, “Trí thường” chuyển sang “Siêu Trí” . Siêu Trí mới ý thức được sự sinh động của năng lực tiên thiên, và sự đổi thay từ sự bình thường sang những sinh hoạt siêu nhiên, liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều hiện tượng tâm sinh lý của đời sống bên trong như hạnh phúc, tuổi thọ, khí số v.v…

Hạnh phúc thật của con người ở đâu?

- Thông thường, đời sống con người liên quan đến sự tổng hợp của Thân, Tâm, Trí. Với tính chủ quan, người ta tìm hạnh phúc ở bên ngoài, do ngoại cảnh và hoàn cảnh đưa đến.

Loại hạnh phúc này như ảo ảnh, lúc có, lúc biến mất. Có người suốt cả đời, đau khổ nhiều hơn hạnh phúc, vì luôn mãi đi tìm, để đạt được một hoặc nhiều yếu tố của Danh, Lợi, Tài, Sắc, Quyền, Thế, Lực…

Đây là loại hạnh phúc do ngoại cảnh mang đến, hỗn hợp, luân phiên xuất hiện sự vinh, nhục, vui mừng, phiền não.

Hạnh phúc do ngoại cảnh tạo nên, không thể tồn tại mãi, vì nó không tự có. “Hạnh phúc thật, tự có”, không ở bên ngoài, nhưng luôn mãi sinh động bên trong.

Đó là sự sáng tạo của Trí.

Sự sáng tạo do ở chức năng suy nghĩ. Sự suy nghĩ hoạt động được mãi. Nhờ sự hoạt động không ngừng, mà đời sống không có sự nhàm chán, luôn được đổi mới theo chiều hướng tiến bộ.

Sự tiến bộ của Trí suy nghĩ, là sự tăng tốc của sự sinh hóa ra tư tưởng, so với những tốc độ của những sinh hoạt khác ở con người, và với những chuyển động khác nữa.

Tốc độ không đơn thuần ở sức, ở mức chuyển động của một vật, một thể, mà nó còn liên quan đến mức tiến hóa đối với con người.

Ở con người, tốc độ nào trong sinh hoạt đạt đến mức nhanh nhất, không còn sự so sánh ở không gian và thời gian, tức là mức tuyệt đối của tốc độ?

- So với cảm giác và tình cảm, thì tư tưởng có tốc độ nhanh hơn. Càng nhanh, mức tiến hóa của nó càng cao, hơn cả tình cảm và cảm giác.

Nhưng, không phải tư tưởng nào cũng Thuận lý, đúng với Chơn lý và Đạo lý, tức là nó có thể nghịch lý.

Như vậy, tư tưởng con người phải luôn luôn được kiểm soát trước khi nó được sinh ra, và trở thành hành động.

Tốc độ của nó nhanh hơn một giây đồng hồ. Tùy theo ở mỗi cá nhân, nó có thể nhanh đến 1/10 hay 1/100 của giây.

Đây là tốc độ của thể sáng của Trí khôn. Tốc độ nhanh, năng lực mạnh; tốc độ cực nhanh, năng lực cực mạnh.

Năng lực mạnh, hiệu quả càng nhiều. Sự lành, sự ác độc cũng nhiều. Nghĩa là, nếu tư tưởng lành, thì hiệu quả là Thiện, chí Thiện; nếu ác độc, thì cực ác, cực độc… bao trùm tất cả những gì tương đối Thiện, tương đối ác, độc. Vì nó xuất nguồn từ Sự Sáng (thể sáng).

Tốc độ sinh hóa ra tư tưởng càng nhanh, hạnh phúc của con người càng nhiều.

Đây là sự đổi thay từ năng lực tiên thiên. Nó cũng ảnh hưởng đến cả những sinh hoạt của nhục thân, như Phước, Họa, tuổi thọ của nhục thân từ trạng thái Hư vô.

Nói cách khác, là sự sinh động, hoạt động của năng lực tiên thiên dưới dạng sinh hoạt, làm tăng sức sống của nhục thân, (tức là của năng lực hậu thiên).

Dương và Âm của Tâm chơn không (Tâm vô tâm trạng) hóa giải được Phước (nhơn Phước), Họa nhưng không kéo dài được tuổi thọ của nhục thân.

Hay là, “Tâm chơn không” chẳng kéo dài được tuổi thọ của nhục thân, chỉ có Đức (những Đức tính sinh động bằng Điện) mới làm tăng tuổi thọ. Điện sinh động, là vận số hoạt động, khí số nhờ đó mà tăng theo.

Đức tính cơ bản làm Điện sinh động, nhiều hơn hết, là tình thương.

Đây là sự đổi thay cách sống bằng đạo, đức mà tuổi thọ được tăng thêm. Sự đổi thay trong cách sống, cũng là sự biến đổi trong sự vận dụng năng lượng.

Khí số (ngày sống chết) của nhục thân do năng lực hậu thiên (Khí, Huyết).

Thay đổi khí số của nhục thân, là chuyển khí số sang vận số, tức là con người phải sống bằng năng lực tiên thiên.

Nói cách khác, là “khi con người sống bằng năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) là khí số được thay đổi bằng vận số”.

Trong trạng thái Hư vô, Thuần Trí hoạt động không ngừng. Nó dễ dàng nhận ra những sinh động vô hình của năng lực tiên thiên, cũng như các hoạt động và hiệu quả của các chức năng của Trí. Như Trí thông minh của chính mình và của tha nhân.

Sự thông minh được tạo nên do những chức năng quan sát, nhớ, suy nghĩ.

Với người thường, người thông minh là người thường xuyên dùng Trí, hơn sống bằng Tâm, với ba chức năng quan sát, nhớ và suy nghĩ. Nhiều hơn hết, là dùng sự suy nghĩ để đáp ứng các câu hỏi, vấn đề là phải quan sát chính xác và suy nghĩ nhanh bên trong.

Tóm lại:

Người thông minh, lúc nào cũng sẵn sàng suy nghĩ mọi vấn đề. Nó là phương tiện hữu hiệu hơn hết, để vượt lên sự bình thường của mình, để tiến lên hàng siêu nhân, đạo nhân v.v…

Suy nghĩ được nhanh, là nhờ vào khả năng của Trí nhớ.

Khả năng của chức năng của Trí nhớ là “chứa và giữ”. Chức năng của Trí suy nghĩ, là dùng những dữ kiện, được chứa và giữ của Trí nhớ.

Càng chứa nhiều và giữ được lâu, thì việc dùng càng phong phú.

Sự thông minh, là nền tảng để tánh linh xuất hiện.

Con người vui, sầu, sướng, khổ… là do tâm trạng. Nhưng tâm trạng sinh động, con người mất tánh linh.

“Tâm” không tâm trạng, không phải là “Vô Tâm”, nhưng sự chơn không của Tâm, là tánh hồn nhiên vậy.

“Tâm chơn không” thì Trí sáng.

“Trí sáng mà Tâm chơn không, thì Tánh linh hiện, tức là con người trở nên siêu việt”.

Tánh siêu việt vượt qua những gì bình thường, vì sự sinh động của nó thì linh thiêng và mầu nhiệm.

Trong sự sinh động của Tánh linh, con người dễ dàng cảm nghiệm được những sự sinh động vô hình, như sự thuận, khắc trong Tâm người, sự thư thái trong thiên nhiên.

Vì, sự tiếp xúc của người với người có thuận, có khắc, nên Tâm động, loạn.

Người tiếp xúc với thiên nhiên, tâm hồn được thư thái, vì thiên nhiên không gây ra sự thuận, khắc, không nhỏ hẹp như phàm tâm của bản ngã, trái lại, nó yên tĩnh, và rộng lớn mênh mang.

Sự sinh động của Tánh linh mở rộng thêm sự hiểu biết, và sự cảm biết về tâm địa, và trí trạng của tha nhân, tức là:

- Biết được tâm địa (lòng) của con người, thì biết được việc làm của con người.

- Hiểu được Trí (tư tưởng, suy nghĩ) của con người, thì biết được cách làm của con người.

Việc làm và cách làm của con người khác nhau và có đến vô tận, tất cả đều do tâm ý.

Người ta tìm “từ” để nói nghĩa lý, tìm “danh hiệu” để chứng thực nghĩa cử.

Sự chứng thực từ “nghĩa cử”, từ “hành động” chưa thể đúng được, bởi vì tâm ý, tư tưởng trong nghĩa cử, hành động đó thuộc nhân đức, công đức hay ác đức.

Đánh giá nhân đức, con người làm được, nhưng công đức, thì do Thiên Cơ.

(Nhân đức dễ nhận, nhưng công đức và ác đức thuộc vô vi, nhưng ảnh hưởng của nó rất lớn liên quan đến Thiên tai, địa ách. Hiện tại, họa này xảy ra nhiều nơi trên thế giới.

Thời nào, việc đời tự nó sai, nơi đó lòng người bị nhiễm, và cứ làm theo. Cái Sai tăng, cái Đúng giảm, đến cái Lý cũng chẳng còn nữa, nên là Vô Lý.

Đã vô Lý rồi, thì Lương Tâm không hoạt động. Chơn Phước mất, Thiên tai dồn dập.

Cái Sai tăng: gian giảo, quỷ quyệt tăng, tình thương giảm, sự chơn thật giảm.

Lương Tâm không hoạt động, thật giả, đúng sai… lẫn lộn, khó nhận ra. Ngay cả trong đời sống của đạo nhân, phàm nhân vẫn thấy sai, tuy nhiên cũng phải suy nghĩ là: “Đúng Đạo, sai Đời”, hay “Sai Đạo, đúng Đời”?

Điều này, khiến đạo nhân tự vấn:

“Tại sao đạo sự” luôn luôn đúng

Cớ gì “việc đời” cứ mãi sai

Phải chăng Trí ta nghĩ không đúng

Thật ra, việc đời tự nó sai.

Thế gian, muôn sự, thật khó xét

“Đạo” chỉ có một, dễ nhận ra

Mãi so sánh bao giờ mới hết

Sự thật có một, chẳng mất công.

Cái “Một”, chẳng có sự so sánh, nó mới tuyệt đối.

Sự thật, chẳng có sự so sánh. Nó có trong Lương Tâm. Khi Lương Tâm hoạt động, nó tự hiện ra.

Đã sao chép liên kết!