KHOA HỌC TÂM LINH

Khám phá sự tuyệt đối nhờ vào tính toàn diện của cả 3 loại khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

NGUỒN SINH HÓA CỦA ĐỨC TÍNH VÀ ĐẠO TÍNH

Đức tính xuất nguồn từ sự rung động của tư tưởng, hay là đức tính được sinh hóa từ năng lực tiên thiên là điện, sinh động ở não bộ.

Đạo tính, trong con người, được sinh ra từ sự sinh động của Sự Sáng Thuần Trí (của Siêu Trí, Trí và Tuệ) cũng từ não bộ.

Khi con người sống hoàn toàn bằng sinh hoạt của não bộ, cá nhân đó thuộc hạng sinh linh. Sinh linh có thể sống bằng bản ngã hay Đạo ngã.

Với bản ngã, luôn vị kỷ, từ não bộ, tư tưởng tạo ra ác đức. Với Đạo ngã, hướng về tha nhân, tư tưởng sinh hóa ra đức tính, và nguồn gốc của mọi đức tính là Đức Bi; hướng về nguồn sinh hóa, tư tưởng liên quan đến đạo tính, đến sự sống của muôn loài, sinh hóa ra đạo tính, cảm nghiệm được đạo tính từ Thể Sáng của vũ trụ, là Đạo Bi.

Đức Bi là “đức yêu thương”, sinh hóa ra từ con người.

Đạo Bi là Đạo yêu thương, là sự sinh động sẵn có trong Sự Sáng của vũ trụ.

“Những gì gọi là Đạo, nó phải có tính sinh động hằng hữu, hoặc phải sinh động vĩnh cửu”.

Như Đạo Bi: tình thương sinh động có tính vĩnh cửu, tính cách hằng sống làm cho nó có sự sống.

Cũng vậy, khi sự Ác, Độc mà vĩnh cửu sinh động trở thành Đạo, thì Ác đạo cũng có sự sống của nó.

Hay là, những gì liên quan đến vũ trụ đều sinh động một cách vĩnh cửu như Thiên Lý, Thiên Cơ, Thiên Năng và Đạo cũng vậy.

Cho nên, Đạo Bi sinh động mãi mãi, chan hòa cả trong vũ trụ. Nhưng mỗi tạo vật theo từng loài, tùy mức độ tiến hóa, mà tạo vật đó có thể được ít nhiều lòng yêu thương. Cũng như, tùy theo sự thu hút của mỗi loài thực vật, mà năng lượng mặt trời được chứa đựng trong chúng.

Tình yêu thương sinh động, nhưng nguồn gốc của Đức Bi và Đạo Bi khác nhau.

Đức Bi có sau khi loài người có. Lòng yêu thương này xuất nguồn từ Lương Tâm con người, yêu thương sức sống của con người từ đối tượng hữu hình, yêu thương loài người.

Dù nó không xuất nguồn từ sự sinh hóa, nhưng nó thuộc về sự sinh hóa của một bộ phận vô hình của vô ngã. Năng lượng tiên thiên (Điện, Sự Sáng) sinh động cũng thuộc về công đức, vì đó là “sự Thiện mang tính vô vi” sinh động thuận với Thiên Lý tiềm ẩn trong Lương Tâm loài người.

Đạo Bi có trong sự sinh hóa, trong sự sáng, sự sống của vũ trụ trước khi mọi tạo vật được hình thành. Tức là “tạo vật chưa có, đã có Đạo Bi sinh động trong Sự Sáng rồi”.

Chỉ riêng có Sự Sáng mới có “Đạo Bi”, là “tình thương vô nguồn gốc thế gian”. Tình thương này có trong sự sống của những sinh linh cảm nhận được bằng Sự Sáng của Tuệ (siêu siêu Trí).

“Tình thương vô nguồn gốc thế gian” là sự sinh động thuần túy từ Sự Sáng xuất nguồn từ cõi siêu siêu nhiên trong con người.

Muốn cảm nghiệm được tình thương này, con người phải hướng cái nhìn vào tận sâu bên trong mới nhận ra được sự sinh động của nó.

Từ Đạo Bi mới có sự sáng tạo nguyên thủy, từ đó sinh hóa tạo vật.

Đạo Bi là tình thương nguyên thủy.

Còn Đức Bi, sinh ra từ tạo vật, có đối tượng mới có tình thương. Đó là tình thương có từ tạo vật.

Hiệu quả của Đạo Bi là sự sáng tạo sinh ra sự mầu nhiệm có tính cách hiện thực tức thì, giống như sự sáng tạo nguyên thủy. Nó sinh hóa ra nhiều loại tình thương khác nhau của sinh linh, của con người, của sinh vật v.v…

Đạo Bi chỉ có một, nhưng Đức Bi có nhiều. Tương tự như, “số một chỉ là số một”, từ đó sinh ra vô tận số khác…

Đạo Bi là “một sinh động lực” sinh động trong sự sáng tạo, mà chức năng để cho sự sáng tạo trở nên vĩnh cửu, là sự sinh hóa.

Tính vĩnh cửu của sự sáng tạo cũng là tính vĩnh cửu của Đạo Bi.

Đức Bi và Đạo Bi làm cho con người dễ siêu thoát. Vì sao?

- Vì tính chất siêu nhiên của Tình thương được tụ về não. Nó không phải là tình cảm, không phải là Khí, vì Khí chỉ dao động, sinh động trong ngũ tạng. Tình thương sinh động trong não, là sự sinh động của Điện và Sự Sáng.

Tình thương làm tăng sức mạnh cho linh hồn (và tâm hồn thanh cao). Linh hồn mạnh có thể hoạt động được ngay cả lúc nhục thân còn sống. Và khi nhục thân chết, linh hồn dễ toát ra.

Trong đời sống, sự tuyệt đối thanh cao và mầu nhiệm chỉ có trong tình thương.

Tình thương càng sinh động, tính thanh cao và mầu nhiệm càng tăng.

Nếu Tình thương luôn sinh động trong Tâm, Trí, trong mọi sinh hoạt, mọi thời gian thì “quả thánh thiện” đã được tạo nên rồi.

Hay là, “sự thánh thiện” là kết quả của Tình thương luôn sinh động trong đời sống.

Nó không có đối tượng hữu hình để so sánh, (không hơn, thua), cũng không có phản ứng tâm lý (không có tâm trạng cá nhân nổi lên).

Cho nên nói rằng:

“Suốt thời (1) Tâm Trí sinh động Tình thương

Linh hồn thánh thiện, hóa sinh nhiệm mầu”.

Trong Tình thương có tính Thiện, hay là tính Thiện có trong Tình thương. Nhưng, loại Thiện nào đạt đến mức toàn thiện và cao nhất trong các loại Thiện?

- Cao nhất trong các loại Thiện là sự toàn thiện của sự sinh hóa nguyên thủy trong Dương và Âm của Sự Sáng. Sự toàn thiện trong sự sinh hóa ban sự sống cho muôn loài, tạo vật.

Hay là, sự Thiện có trong sự hằng sống, hằng sinh hóa mới có tính toàn thiện.

Trong con người, sự toàn thiện sinh động ở đâu?

- Chẳng phải ở Tâm, vì Tâm do ngũ hành ngũ khí mà có. Nó thuộc về bản ngã, còn có sự đối đãi giữa Thiện và Ác, còn có thể so sánh được.

- Ở Lương Tâm, con người cảm nghiệm được tính Thiện sinh động trong chính mình.

- Cuối cùng, chỉ ở Tuệ và Tánh của vũ trụ trong con người, tức là sự sinh động của sự sinh hóa nguyên thủy trong con người, lúc đó con người mới rõ được nguồn gốc của sự toàn thiện trong sự sinh hóa của Dương và Âm.

Trong sự sinh hóa nguyên thủy từ Dương và Âm của Sự Sáng, chẳng có đối tượng yêu thương, mà lòng yêu thương luôn sinh động, thì người đó đã đắc Đạo Bi. Và sự An Vui luôn có trong mọi sinh hoạt.

(Luôn luôn vui vẻ là sự sinh động bên ngoài của Đạo Bi, Đức Bi. Nó là sự Lạc của Tâm An. Trái lại, vui, mừng từ đối tượng hữu hình, là Tâm động, mặc dù đó là sự sinh động của Thanh khí Dương).

Tình thương của người thường được tạo nên từ các đối tượng hữu hình làm cho người đó có lúc mạnh, lúc yếu về tinh thần. Nhưng, khi sống bằng Đạo Bi, con người có một sức mạnh mãnh liệt.

Vì sự hy sinh quên mình trong Đạo Bi, mà con người không yếu đuối, không còn sự lo, sợ làm ô nhiễm sự trong sạch của lòng mình.

Sức mạnh trong Tình thương tăng lên do ở ước muốn sáng tạo những lợi ích cho tha nhân.

Đạo (Thiên Lý) sinh động vô tận. Như vậy, Đạo Bi là Tình thương vô nguồn gốc thế gian có trong Thể Sáng cũng sinh động cho đến vô tận. Hay là Tình thương sinh động vô tận là Đạo Bi.

Trong con người, “Tình thương này thuần khiết”, vô nhiễm cảm giác, tình cảm và tư tưởng của bản ngã.

Trong trạng thái này, tính của Tình thương mới hoàn toàn Thiện.

Tính toàn thiện sinh động trong Tình thương được chứa trong Thể Sáng (Sự Sáng) của Trí.

Khi Trí hướng ra ngoài bằng những tư tưởng trong sinh hoạt, tính Thiện trong Tình thương cũng toát ra trong ngôn, từ, hành động, trong chơn tình và trong tất cả những gì được sinh hóa ra từ tư tưởng.

Sự sinh động nào cũng là năng lực. Hay là năng lực nào cũng sinh động, và ảnh hưởng đến những gì mà nó giao tiếp.

Tính Thiện cũng vậy. Tính này ảnh hưởng đến môi trường nhân sinh. Tình thương này càng nhiều bao nhiêu, tính Lành càng tỏa ra bấy nhiêu và ảnh hưởng đến sinh khí của môi trường.


(1) Thức cũng như ngủ, nghỉ, trong Trí vẫn sinh động Tình thương (trong giấc mộng), đó là đạo nhân.

Ngủ mà trong Trí (trong giấc mơ) vẫn sinh động tình cảm, dục cảm, đó là thường nhân.

Tình thương luôn sinh động, con người đắc Đạo Bi. (Tình thương luôn sinh động trong Sự Sáng, tỏa ra tư tưởng (Điện), ra đến tình cảm (Khí), tức là Tình thương tỏa ra trong tất cả mọi sinh hoạt của Tâm, Trí).

Đã sao chép liên kết!