KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

SỰ SỐNG

CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG

Thông thường, con người đói thì ăn, khát uống. No nê, trở nên nhàm chán khẩu vị, một số người tìm của ngon, vật lạ để hưởng thụ, mục đích là mong sống lâu hơn bình thường. Các món ăn được tăng lên rất nhiều, với những tinh hoa, thực lực của cây cỏ, nhưng da vẫn nhăn, má cóp; có người còn hầm cả châu ngọc nhiều ngày để tiêu thụ chất tinh túy được chứa đựng trong chúng, nhưng tóc vẫn bạc, mắt mờ.

Thực phẩm có chất dinh dưỡng cao làm tăng trọng lượng của nhục thân, ngay cả linh chi có tính dưỡng Thần; Sâm bổ khí trong Huyết cũng không thể làm cho con người sống lâu như rắn, rùa được.

Rắn lột da để trẻ hóa sức sống; rùa thở cực nhẹ, nhờ đó mà tim đập rất nhẹ và chậm, nên cả hai loại có sức sống lâu hơn con người.

Nhục thân không thể sống mãi được, nó bị luật Sinh Diệt chi phối. Người nhận ra được điều này, không coi sự sống của nhục thân là tuyệt đối quí, mà đi tìm sự sống vĩnh cửu trong chơn Tâm, chơn Trí.

Qui luật Sinh Diệt trong con người là sự tăng, giảm của tinh lực trong nhục thân. Tinh lực tăng đến tối đa, sau đó giảm dần để đi đến cái chết.

Tại sao?

- Vì nhục thân thuộc về hữu hình, có lực tăng, giảm, tức là có Sinh, có Diệt.

Những gì có Sinh, mà chẳng bị Diệt trong con người?

- Những gì thuộc về vô hình như: Tâm, Trí, Lương Tâm, Tánh, Tình Thương, Đức tin… chúng có Sinh nhưng không có Diệt.

Con người có thể làm tăng năng lực của chúng, và cũng thể làm giảm năng lực của chúng. Nhưng, một khi chúng đã có rồi, thì không còn bị Diệt nữa.

Có gì trong tiến trình từ Sinh đến Diệt của nhục thân?

- Đó là sự diễn tiến của những trạng thái của cơ thể đi dần đến cái chết của nhục thân. Thông thường, sự diễn tiến những trạng thái này không thay đổi từ lúc trẻ đến tuổi già:

Mỏi → mệt (1) → yếu (suy nhược) → bệnh → đau đớn (giảm nội lực) → → chết (nội lực kiệt: cái chết của nhục thân).

Người đã lớn tuổi, nếu không có những trạng thái trên đây, có thể trường thọ, trường sinh (đời sống mạnh của khí thân, điện thân… Sau cái chết của nhục thân), trường sinh bất lão (sự hiểu biết của Trí khôn rất linh hoạt, như lúc thanh niên), cải lão hoàn đồng…

Trường thọ: không bệnh tật, không mệt mỏi, khí, huyết mạnh, tinh thần linh hoạt. Nhục thân trường thọ.

Trường sinh: Thần, Khí mạnh. Nội lực đầy đủ. Các loại thân khác đã có khả năng hoạt động khi nhục thân đang sống.

Trường sinh bất lão: làm ngược lại sự diễn tiến của sự sinh hóa, hay là làm chủ được hệ thần kinh thực vật bằng cách điều khiển cho tim và phổi ngưng hoạt động, thì các tế bào không già. Trong sự nhịn ăn, hoặc do cách lấy năng lực vũ trụ vào (lấy Sự Sáng hay là Sự Sáng tự sinh động để sinh hóa ra những thể khác mà không có CO2 (2) trong các thức ăn) để bổ túc cho những năng lực và lực hao hụt mà không cần đến ăn uống.

Đây là cách làm ngược lại diễn tiến thông thường, là lấy lực bên trong ra nuôi thân thể mà không cần đến thực phẩm và thức uống từ bên ngoài đưa vào. Vì vậy, mầm bệnh trong bộ tiêu hóa tự diệt.

Cải lão hoàn đồng: muốn trở lại trạng thái nhi đồng, phải đi ngược lại diễn tiến của sự sinh hóa:

“Hoàn đồng” tinh hoàn, hay là tinh hoàn thì có, nhưng tinh trùng không sản xuất. Mạch Xích (mạch của Thận) ở cườm tay trái ngưng động.

Nếu bộ sinh dục teo nhỏ lại, Đó là hiện tượng Tinh hóa Khí (Khí thân trở nên mạnh mẽ, có khả năng hóa to, nhỏ tùy theo siêu ý)

Những biến đổi trong sự hoàn đồng: Âm thanh trong, tóc đen da bóng. Hệ thần kinh tốt, hệ nội tiết, hệ miễn nhiễm như trẻ thơ.

Tánh hồn nhiên, vui vẻ…

Sự tìm kiếm luôn tiếp diễn

Con người bắt đầu tìm những gì tạo cho mình sự sống vĩnh cửu với những thực vật. Nhưng, thức ăn uống chỉ làm cho nhục thân được trường thọ.

Con người đi tìm từ bên ngoài trước dần dần khám phá ra nội lực và biết được trong nhục thân có những loại thân khác được hình thành với những bộ phận, cơ quan vô hình được đưa vào sinh hoạt của đời sống. Từ đó, nhiều khoa được tạo nên như châm cứu, phân thân, thôi miên, trị bệnh bằng bùa, chú, phép đi trên nước, bay bổng v.v…

Càng hướng sự quan sát, sự suy nghĩ của Trí khôn vào trong, con người khám phá ra, chính mình có nhiều loại lực ngoài tinh lực và khí lực, còn có cả thần lực, huyền lực, huyền năng. Và cuối cùng mới cảm nghiệm được sự sống (sự hằng sống) ngay trong bản thân mình, mà hiệu quả của nó là “sự sống cảm ứng được được với nguồn gốc của sự sống qua sự mặc khải”.

Trong sự diễn tiến đi tìm sự sống, con người trải qua:

- Dưỡng sức sống

- Luyện

- Tu

- Sống đạo

Trong “Luyện nội lực”, đã sẵn có cách nuôi dưỡng sức sống.

Trong Tu, đã sẵn có Luyện và Dưỡng sức sống.

Trong sống Đạo đã sẵn có Tu, Luyện và Dưỡng sức sống.

Sự tìm kiếm luôn tiếp diễn, mặc dù vậy, những sự suy nghĩ của con người luôn bất đồng, có người coi sinh hoạt là sự sống của chính mình. Và tùy theo mục đích hướng về sự tiến hóa của một đời sống (vật chất, tinh thần, tâm linh) mà lý thuyết, chủ thuyết (3), Đạo lý… được tạo nên)

1. Hướng về sự tiến bộ, tiến hóa, sung mãn của tài sản…, nhiều thuyết về kinh tế, tài chánh được phổ biến.

2. Hướng vào đời sống tinh thần: có nhiều sáng tạo về Triết lý. Mục đích của Triết học là áp dụng Triết lý vào đời sống nội tâm để nâng cao tâm hồn lên.

3. Hướng vào đời sống tâm linh: có sáng tạo về Đạo lý.

Mục đích của sống Đạo là áp dụng Đạo lý vào đời sống tâm linh để sinh hoạt bằng sự mầu nhiệm và linh thiêng.

- Nhận xét về các đời sống (vật chất, tinh thần, tâm linh) để rõ được mức tiến hóa của một cá nhân, gia đình, bộ tộc, dân tộc…, chỉ cần:

+ Quan sát sinh hoạt, tập quán, phong tục,

+ Tín ngưỡng

+ Sách báo, nghệ thuật, mỹ thuật.

Sự tìm kiếm luôn tiếp diễn dù với Trí khôn cực thông minh được tạo nên do ngũ giác quan, nó cũng không thể cảm nghiệm được nguồn gốc sinh hóa.

Trí khôn là một tạo vật. Như vậy, đã là một tạo vật, thì “chẳng có một tạo vật, hay sự thụ tạo nào tự có” kể cả sinh linh, con người. Nhưng rất ít người tự hỏi, con người sinh ra để làm gì, và tiến hóa đến đâu?

- Được sinh ra, con người có khả năng tạo thêm năng lực cho vũ trụ. Và với những bộ phận vô hình và mầu nhiệm, đời sống con người được kéo dài đến mức trường sinh, sau đó đến hằng sống.

Cũng nhờ những bộ phận vô hình này, con người có thể cảm ứng được với Thiên Năng, Thiên Cơ và Thiên Lý qua sự sinh động vô hình của Dương và Âm trong đó.

Đời sống con người có thể kéo dài đến mức trường sinh, đến sự sống, hay sự hằng sống. Trường sinh, có nhiều người đạt được, nhưng mức hằng sống tuy có, nhưng rất mơ hồ và trừu tượng đối với con người bình thường.

Nói đến sự hằng sống, dĩ nhiên phải có những gì biểu hiện của sự sống.

Trạng thái và những hiện tượng nào biểu hiện cho sự sống?

- Hiệu quả cuối cùng làm cho sự sống (Sự Sáng) trở nên hằng sinh động là sự giác ngộ Nguyên Lý vũ trụ (“sự Hiểu tức thì và tự động” không qua chức năng Biết và cảm nhận).

Sự Hiểu này chứng thực là có Tuệ hiện hữu (siêu siêu Trí hiện hữu) và hoạt động. Nó làm cho con người luôn tỉnh thức không còn ngủ nữa (4), và con người không còn vướng vào vòng Sinh, Diệt, vì vậy mà sự chết không còn.

Trạng thái này là kết quả của Hư vô (trạng thái chơn không) của Trí, Tâm và Thân (tương tự như trạng thái sống của thai nhi trong bụng mẹ). Và từ sự Hư vô, mà 3 nhân tố đó trở nên Chơn Thân, Chơn Tâm, Chơn Trí.

Chơn Thân:

Nhục thân khỏe, vì không còn gốc (mầm móng) của bệnh.

a. Huyết:

Lưu thông tốt trong mọi thời gian, toàn thân luôn ấm áp, tay chân không lạnh, cơ bắp mềm mại.

Liên quan trực tiếp đến Huyết là các Tạng, Phủ. Và liên quan đến Thanh huyết (huyết sạch) là nước miếng ngọt, hơi bốc lên từ bao tử có mùi thơm (hơi thơm hơn hơi thở của trẻ con khi chưa biết ăn, chỉ uống sữa). Nước tiểu trong, phân màu vàng. Tiểu tiện, đại tiện nhẹ nhàng, tạo sự thoải mái cho nhục thân (5).

Thân thể hoạt động nhẹ nhàng có sự mềm mại như thân thể của trẻ con.

b. Khí (nội tức, chơn tức).

Nội tức (thở bên trong): Sự hư vô của Tâm của Trí (vô tâm trạng, vô tư tưởng, nhưng luôn ý thức được trạng thái hư vô) đưa đến sự đổi thay của hô hấp bình thường. Hay là, sự hô hấp bằng phổi ngưng hoạt động do sự hư vô của Tâm, Trí, mà dịch kỳ của hô hấp nhẹ dần và chuyển sang nội tức.

Cách thở này biến khí trong nhục thân thành một mảng khí mang vóc dáng của nhục thân. Không khí ra vào qua các lổ chân lông.

Chơn tức (thở bằng não): Khi trạng thái Hư vô của Tâm và Trí kéo dài, thì nội tức chuyển sang chơn tức, là cách thở bằng sự sáng ở não.

Sự sáng ở não cung cấp nhân điện và khí cho nhục thân. Nhờ vào sự cung cấp này, mà năng lực trong các kinh, lạc thông với nhau, tức là khí Dương và Âm hòa nhập vào nhau, nên không còn sự chuyển động có dịch kỳ của Dương khí và Âm khí trong nhục thân nữa.

Chỉ khi nào Dương khí và Âm khí hòa nhập vào nhau, lúc đó khí thân mới có thần lực mạnh nhất, và có thể biến ra to, hoặc nhỏ do siêu ý điều khiển.

Sự lưu thông toàn hảo của “chơn khí” (khí hợp nhất) trong kinh, lạc trong toàn thể nhục thân tạo ra một hiện tượng khác thường ở các khiếu (7 khiếu của người nam, 9 khiếu của người nữ). Khi “chơn khí” hoạt động, các khiếu đều sạch, không còn sự bài tiết hoặc tụ đóng của những chất dơ bẩn, như mắt không còn ghèn; tai, mũi không có chất dơ.

Tóm lại:

Chơn thân, mà con người đạt được là một trạng thái của nhục thân thu hút năng lực, năng lượng trực tiếp của vũ trụ qua nội tức, và chơn tức với sự ngưng hoạt động của tim (6) và phổi.

Sự ngưng hoạt động của tim và phổi làm cho Huyết và Khí không còn dịch kỳ chuyển động nữa. Nó đưa hai thể này về trạng thái nguyên thủy. Như vậy, diễn tiến của sự sinh hóa không còn, trái lại, nó tạo ra sự chuyển động ngược lại, đó là sự chuyển hóa từ sinh động trở về trạng thái hư vô, tức là mọi sức sống trở về sự sống (sự hằng sống).

Trong sự sinh hóa, năng lực tuyệt đối mạnh sinh ra những lực khác có tính tương đối mạnh, như huyền lực, thần lực và tinh lực, tức là có sự giảm dần về cường lực.

Trong sự chuyển hóa, trái lại, có sự tăng trưởng về cường lực đến mức tuyệt đối của trạng thái nhất nguyên, mà trong cơ thể con người, đó là sự hư vô của Tâm và Trí.

Trạng thái nguyên thủy này khác với trạng thái nguyên thủy về Khí, Huyết của trẻ thơ, vì các thể linh thiêng (Sự Sáng, Điện, Khí, Huyết) trong người trưởng thành đã được phát triển đến một mức cao hơn, tức là nội lực đã có đầy đủ, để có thể dùng được trong sự hiện thực những sự phi thường do siêu ý, hoặc siêu siêu ý điều khiển.

Nhờ ở sự ngưng động của tim và phổi mà những gì liên quan đến hai hệ khí huyết như các cơ quan, chức năng, các kinh, lạc, mạch, tế bào v.v… đều được lành mạnh hóa, tức là những mầm móng của bệnh thuộc về khí, huyết đều bị diệt do sự thanh tẩy những độc tố tiềm ẩn sinh động trong hai hệ đó bằng thanh khí thấm nhập trực tiếp qua da. Nhờ oxy thấm nhập trực tiếp qua diện tích rộng lớn của da, mà các tế bào của ngũ tạng, lục phủ, đầu não v.v… đều lành mạnh do thanh khí trục đẩy độc khí, trược khí ra ngoài (7).

Trong trạng thái này, không còn sức sống luân phiên chuyển động trong hai hệ khí, huyết nữa, tức là không còn dịch kỳ của khí, huyết nữa, mà chỉ có một mảng khí mang hình dáng của nhục thân. Chính sự biết của con người cảm nghiệm được sự sống của thể linh thiêng, hay là con người ý thức và cảm nghiệm được sự sống của khí cũng là thần lực của khí đang sinh động vậy.

Tóm tắt:

“Chức năng chuyển động của khí, huyết không còn, thì sức sống của hai thể này không còn tăng, giảm, không còn Sinh, Diệt. Trong sự hợp nhất đó, toát ra sự sống, tức là trong trạng thái Hư vô, toát ra sự sống, chỉ có duy nhất sự Sinh (sự sống) và “tự động sống”.


(1) Mệt thân: do sự mỏi của cơ bắp. Sự mỏi này do sự vận động quá sức chịu đựng của cơ bắp… thuộc về Huyết. Mệt do hệ Khí: hô hấp không được điều hòa, do trược khí và độc khí.

Mệt Tâm: đưa đến mệt Thân, và làm suy nhược hệ thần kinh.

(2) CO2 là một trong những nhân tố và cũng là một độc tố làm cho tế bào của nhục thân lão hóa nhanh. Do đó, người dùng rau quả nhiều, ít bệnh và lâu già hơn những người dùng các thức ăn chế biến từ động vật chứa nhiều CO2.

(3) Lý thuyết: Lý dùng để học hỏi, phân tích, nghiên cứu.

Chủ thuyết: là một lý thuyết, căn cứ trên đó mà thực hiện, thực hành tư tưởng của sáng tác gia.

(4) Khi con người suy nghĩ, sự sáng của Trí hoạt động, con người không thể ngủ được, khi Trí thông minh hiểu, càng không thể ngủ được, phương chi khi Tuệ đang hiểu, con người luôn tĩnh thức. Đến khi nào, Trí hoạt động trở lại bình thường, lúc đó mới ngủ được.

(5) Đây cũng là một yếu tố của chơn phước mà con người được hưởng ở nhục thân, trong đó có sự ngủ ngon, ăn ngon, tiêu hóa, bài tiết tốt…

(6) Máu không còn dịch kỳ chuyển động, mỗi đơn vị của máu tự động sinh động, tự tạo lấy sức sống cho nó.

(7) Hiện tượng của da ngứa cũng là hiệu quả của sự thanh tẩy của độc khí, của trược khí do sự thấm nhập của oxy vào đến tận các tế bào. Và độc khí, trược khí được đẩy ra ngoài.

Đã sao chép liên kết!