KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP, VÀ CHỨC NĂNG VÔ HÌNH HÓA ĐỂ TIẾN HÓA

Khi biết rõ hiệu quả của một phương pháp, hay của một chức năng vô hình trong cấu trúc của con người, hãy ứng dụng nó vào đời sống, vào sinh hoạt để có thể tiến hóa nhanh, hay để tăng thêm kiến thức, trí thức và tri thức.

Như vậy, con người có thể ứng dụng hay luyện sự Hiểu như thế nào trong giáo dục, trong đời sống tinh thần và tâm linh?

- Điều cần thiết trong sự tiến hóa con người là ứng dụng những phương pháp, những chức năng nào có hiệu quả nhất vào sinh hoạt của đời sống, phù hợp với tuổi tác, thời gian và sinh hoạt của việc làm, của hoàn cảnh.

Giáo dục là phương tiện hữu hiệu giúp cho con người tiến bộ, thì sự “tự biết mình” và sự khám phá ra tiến trình sinh hóa ra những bộ phận và chức năng vô hình trong Tâm, Trí là một nhu cầu cần thiết, và là điều kiện thuận lợi làm cho con người tiến hóa nhanh hơn và đạt đến mức tuyệt đối của nó là “tự tiến hóa trong sự tồn tại, và sự tiến hóa của cái Hiểu trong sự toàn diện.

Nhưng, nhờ vào đâu, con người có thể Hiểu được một cách toàn diện?

- Do định luật sinh hóa, chuyển hóa và tiến hóa mà trong con người có nhiều bộ phận, cơ quan vô hình được tuần tự sinh ra. Chúng có khả năng làm cho sinh hoạt con người được mở rộng vào những thế giới rộng lớn hơn là thế giới tự nhiên, liên quan đến 5 giác quan. Đó là thế giới siêu nhiên và siêu siêu nhiên.

Sinh hoạt của con người mở rộng đến đâu, thì sự Hiểu và Biết của con người cũng tỏa ra đến đó.

Sinh hoạt của con người là một thực tế, thì “sự Hiểu và Biết” của con người là một thực thể. Sự mở rộng của thực tế và thực thể vào trong thế giới siêu nhiên và siêu siêu nhiên giúp cho con người nhận ra được sự tiến triển của sự tiến hóa ngay trong đời sống và trong bản thân mình do sự cảm nghiệm trực tiếp sự rộng lớn vô hạn trong trạng thái Hư vô (chơn không).

Cái Hư vô rộng lớn này cũng là cái cùng cực rộng lớn của vũ trụ trong tâm hồn, linh hồn đối với sinh hoạt bình thường của cá nhân. Đây cũng là sự toàn diện và tuyệt đối của đại vũ trụ mà tiểu vũ trụ cảm nghiệm và hòa nhập vào.

Sự hòa nhập này không phải là một hiện tượng bình thường, mà con người cảm nhận qua những gì đã xảy ra trong thế giới hữu hình, tự nhiên.

Đây là sự hòa nhập của Sự Sáng của Trí thông minh vào Sự Sáng của vũ trụ, trong đó sinh động Nguyên Lý của vũ trụ – sự sinh động vô hình của mọi sự sáng tạo. Hay là, sự hòa nhập của sự Hiểu của con người vào Nguyên Lý, khiến cho cái Hiểu đó trở nên “Hiểu tức thì” và “mãi mãi” một cách toàn diện và tuyệt đối ngay từ nguồn gốc sáng tạo như chính vũ trụ đang chứa đựng nó.

Nhưng, ngược lại, là Nguyên Lý vũ trụ đang điều khiển và điều hành tất cả những gì xuất sinh từ Nguyên Lý, như Thiên Cơ, Thiên Năng và tất cả mọi tạo vật từ cực to đến cực nhỏ có trong vũ trụ.

Khi Trí (Siêu Trí, Siêu Siêu Trí) có khả năng “Hiểu tức thì và mãi mãi”, con người không cần học nữa (1), không cần luyện những chức năng quan sát, nhớ, suy nghĩ của Trí nữa, vì chúng đã được tự động tăng đến mức tuyệt đối khả năng của chúng do sự “Hiểu tức thì” tạo nên.

Tại sao?

- Vì trong sự Hiểu bao gồm cái Biết, sự suy nghĩ, nhớ, quan sát. Do đó, nếu sự Hiểu đạt đến mức tuyệt đối, thì tất cả những chức năng kia cũng đạt đến mức cao nhất của chúng vậy.

Tại sao khi “Hiểu tức thì và mãi mãi”, con người không cần phải học để Hiểu nữa?

- Vì đã Hiểu được Nguyên lý của vũ trụ, cũng là Hiểu từ nguồn gốc sáng tạo của những Lý khác sinh động trong 3 thế giới, cho nên chẳng cần phải học nữa, mà chỉ trình giảng cho ai (2) cần biết, cần hiểu.

Như vậy, sự ứng dụng cái “Hiểu tức thì và mãi mãi” trong đời sống tâm linh và tinh thần như thế nào?

- Nếu con người nhận rõ được mức tiến hóa của mình qua những chức năng vô hình mà mình có được, và nếu khôn ngoan hơn, con người sẽ sử dụng những chức năng nào mang đến hiệu quả cao nhất trong sinh hoạt để có thể tiến hóa nhanh. Đối với người bình thường, đó là chức năng suy nghĩ và sau đó là chức năng nhớ. (Hiệu quả của một chức năng lôi cuốn theo hiệu quả khác nữa, là suy nghĩ càng tăng về trường độ, thì hiệu quả nhớ, do đó, mà tăng theo…).

Trong đời sống tâm linh, sinh hoạt thường xuyên và chính yếu là “Hiểu mà không cần suy nghĩ” của Trí thông minh của chơn ngã sinh động mãi mãi. Sự Hiểu càng sinh động, mức độ Hiểu càng tăng.

Khi sự Hiểu của chơn ngã sinh động (3), thì những chức năng khác của Trí cũng theo đó mà sinh động một cách tự động.

Các thể linh thiêng khác cũng tự động sinh động, nên toàn thân cảm thấy khỏe.

Đối với đời sống tinh thần, cái Biết của con người nhiều hơn sự Hiểu. Chức năng suy nghĩ và nhớ được vận dụng nhiều, kèm theo sự hiện hữu của bản ngã, nên sinh hoạt làm cho Tâm và nhục thân mệt (4).

Như vậy muốn tiến hóa đời sống tinh thần của tha nhân, “nên dùng cái Hiểu để cải tiến cái Biết”, tức là “dùng Lý (nói lên cái Lý) để giảm thiểu chức năng suy nghĩ của người nghe”.

Hay là, nói nhiều lần cái Lý, để người nghe giảm đi sự tìm tòi từ những hiện tượng hữu hình hoặc siêu hình… (Và chính sự tìm tòi nguyên nhân từ những hiện tượng làm cho người suy nghĩ phải nặng đầu, nhức óc…).

Cũng có thể nói: “tiến hóa đời sống tinh thần là dùng Trí thông minh làm giảm bớt thời gian suy nghĩ” mà “hiệu quả để Hiểu được nhanh hơn” bằng cách đưa ra cái Lý để dễ hiểu, hơn là vận dụng Trí suy nghĩ để tìm nguyên nhân qua những hiện tượng.


(1) Con người không cần học những gì từ sự Hiểu, nhưng cần đến Biết, con người phải học, và những gì thuộc về sự sáng tạo của con người, như ngôn ngữ, kỹ thuật v.v…, dù cho những sáng tạo đó mang tính phỏng tạo, mô phỏng.

(2) Sinh linh quan trọng hơn mọi tạo vật cực to, cực nhỏ, vô tri, vô giác. Tất cả những sinh linh thuộc về 3 thế giới, nếu họ cần hiểu biết, cần tiến hóa, vì Nguyên Lý của càn khôn bao trùm tất cả mọi Lý có trong 3 thế giới đó.

(3) Nếu có câu hỏi được đặt ra từ người đối thoại, đạo nhân chẳng cần suy nghĩ để trả lời, chỉ đáp lại, hay giải thích bằng sự Hiểu, bằng những Lý đã sẵn có trong vũ trụ.

Như vậy, nó không có quan điểm đối lại quan điểm của cá nhân, mà người hỏi vẫn được sáng tỏ vấn đề.

(4) Nếu còn bản ngã hiện hữu trong mọi sinh hoạt dù cho sinh hoạt đó liên quan đến toàn thể Thân, Tâm, Trí…, hoặc sinh hoạt đó liên quan đến từng phần, thì nó cũng làm cho nhục thân mệt, hay Tâm và Trí cũng bị ảnh hưởng mà mệt theo. Như vậy, làm sao cho ta không mệt?

Chỉ cần sinh hoạt bằng chơn ngã và sự Hiểu mà thôi.

Đã sao chép liên kết!