KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG

Từ trước đến nay, nhiều dân tộc và cá nhân dùng Trí thông minh được tạo nên từ sự trưng thu của 5 giác quan để khám phá ra những kỳ bí, cấu trúc của vũ trụ đều không đạt được theo ý muốn.

Ngày nay, những nước tiên tiến dùng những phương tiện khoa học cao, có tầm hoạt động di chuyển xa và nhanh, những phương tiện quan sát rộng và cực xa… cũng không tạo cho con người một kiến thức tuyệt đối đầy đủ, để hiểu biết một cách toàn diện về vũ trụ, mà mục tiêu cuối cùng là khám phá ra sự sống nguyên thủy của mọi tạo vật đã có và hiện có (1) .

Trí thức tăng rất nhiều từ những việc làm này, nhưng “Tri thức” về sự thật trong sự cấu tạo của vũ trụ không được bao nhiêu.

Cứ như vậy, cho đến bao giờ con người mới biết rõ được hết vũ trụ.

Với Trí khôn, con người không nên giữ mãi một định kiến, hay cứ kiên trì làm một việc tốn kém, mà việc đó không mang lại một sự tiến hóa nhanh cho loài người. Vì vậy, con người phải lựa chọn một phương cách không tốn kém, nhưng thật hữu hiệu qua sự hiểu biết từ những thực nghiệm của chính mình.

Nhưng, nếu tiếp tục như vậy, liệu xem con người phải mất bao nhiêu năm mới khám phá ra sự thật trong sự cấu tạo của vũ trụ.

Có một phương pháp hữu hiệu và không tốn kém, là khám phá ra sự thật, nguyên lý cấu tạo của vũ trụ trong con người bằng cách để cho Sự Sáng của Siêu Siêu Trí (Tuệ) hòa nhập vào Nguyên Lý (Thiên Lý).

Cái Hiểu (chức năng Hiểu) trong Sự Sáng của Tuệ cũng hòa nhập vào Thiên Lý để Hiểu được một cách toàn diện và tức thì, nên được gọi là Toàn tri.

(Điều này cũng giống như đại dương, chất mặn trong nước tỏa ra khắp nơi, làm cho đại dương có chất mặn. Chất mặn là yếu tố chính của nước trong đại dương, thì sự Hiểu cũng là một yếu tố quan trọng của Sự Sáng (thể sáng) của mọi loại Trí. Và sự Hiểu của Trí được coi như chất mặn của đại dương có trong mỗi phân tử).

Phương cách này giúp cho con người khám phá ra Nguyên Lý của vũ trụ trong chính mình mà không cần đến đối tượng, hay những hiện tượng hữu hình do các giác quan đưa vào Trí suy nghĩ. Hơn nữa, nó không tốn kém hay gây phiền hà cho những người khác.

Nhưng, phương cách này rất ít người chấp nhận. Quan niệm này bị đảo ngược do sức sáng tạo không ngừng và ngày càng nhiều, trong đó những suy nghĩ phi thường được hiện thực. Từ việc làm đó, nẩy sinh ra sự tự tôn, tự đại. Sự tự cao đó ở mức độ nào?

- Khi con người sáng tạo được nhiều và hiệu quả của vật dụng, phương tiện có sức hấp dẫn tâm hồn con người, thì trong số những người sáng tạo đó, có thể quên mình là một thụ tạo và tự coi mình như đấng tạo hóa với quyền phán xét, xét đoán, quyết định luôn cả số phận của người khác.

Có điều chính yếu mà con người quên, đó là “vật thụ tạo sáng tạo”. Và sự sáng tạo luôn có giới hạn.

Vật được sáng tạo từ con người không thể tồn tại lâu, vì nó thiếu hoặc không có nguyên liệu đầy đủ của vũ trụ, hay nó không được tạo nên từ nguyên liệu vĩnh cửu tồn tại, là thể sáng, Điện (năng lực tiên thiên có trong vũ trụ) và Khí, Thủy (năng lực hậu thiên của địa cầu).

Như vậy, con người tác tạo những tạo vật không có sự sống, làm sao những tạo vật đó tồn tại lâu được.

Chúng phải bị hủy hoại trong một thời gian nào đó. Có một số tạo vật có sức sống nhân tạo, là những tạo vật liên quan đến điện nhân tạo. Chúng tồn tại khá lâu, và rồi cũng bị hư hoại.

Những gì sẽ phải xảy ra khi con người tự đại, tự tôn mình lên?

- Thời kỳ nào, con người có khả năng sáng tạo những tạo vật tinh vi, cấu trúc phức tạp, và với ý nghĩ tự đại, tự tôn vinh mình, thì đại họa sẽ phải xảy ra, và nó vượt qua mọi trù liệu, quan phòng của Trí khôn con người.

(Nơi nào có những tạo vật, những phương tiện với khoa học hiện đại, kỹ thuật cao… mà con người tự hào về “Trí khôn tề thiên” (bằng Trời), về tài năng siêu việt của mình, thì nơi đó sẽ phải xảy ra tai họa để con người được chứng kiến hậu quả của sự tôn vinh mình một cách quá đáng.

Điều này được chứng minh ở những kỳ quan còn sót lại trên địa cầu của nền văn minh cổ đại và tiên tiến, mà con người thời đó đã biết vận dụng Siêu Trí, huyền lực trong kiến trúc).

Tất cả những suy nghĩ như vậy do sự u minh của Trí khôn. Sự u minh này xuất hiện khi Trí khôn con người chỉ nghĩ đến con người mà không cố tìm đến nguồn sống, nguồn sinh hóa của chính mình.

Hàng vạn năm, loài người tích lũy kiến thức, kiến văn… để tạo nên trí thức. Với sở đắc đó, có đủ để loài người, tự cho mình là biết và hiểu được tất cả hay không; con người đã hiểu rõ được sự kỳ diệu của sự sống của chính mình chưa?

- Chưa rõ được kỳ diệu của chính mình đang có, làm sao thấy được sự mầu nhiệm đang sinh động trong vũ trụ, huống gì đến khả năng cảm nhận được sự linh thiêng, mầu nhiệm trong Thiên lý, Thiên cơ, Thiên năng của vũ trụ.

Trí thức bao gồm kiến thức, kiến văn. Như vậy con người học hỏi nơi con người chẳng được bao nhiêu, vì mức độ trí thức bị giới hạn do thời gian (vài ngàn năm), do không gian (do khả năng của các giác quan).

Cho đến nay, mức độ trí thức của con người là quá trình của sự tiến bộ trong sự tích lũy kiến thức một chiều từ bên ngoài đưa vào trong – từ những hiện tượng hữu hình bên ngoài khai trí con người.

Muốn tiến hóa đến mức tuyệt đối, con người phải toàn tri.

Đây là mức cuối cùng của sự hiểu và biết toàn diện, trong đó con người có thể cảm nhận, cảm biết và hiểu được sự kỳ diệu, linh thiêng và mầu nhiệm của sự sáng tạo của Nguyên năng.

Để tiến hóa đến toàn tri không qua sự tích lũy kiến thức của nhiều thế hệ loài người, con người chỉ có một bộ phận hay một chức năng vô hình là “sự Hiểu của Trí thông minh” cũng là cái Hiểu tiềm tàng sinh động trong Sự Sáng.

(Các đại chưởng giáo qua “sự giác ngộ tức thì” mà toàn tri. Những vị này thấu triệt Nguyên lý, Đạo lý… bằng chức năng Hiểu của Trí thông minh mà không theo sự học hỏi nơi con người, có nghĩa là Hiểu trực tiếp từ Thiên Tuệ, hay từ Thiên lý qua sự cảm nhận, hay sự cảm nghiệm của Siêu Trí hoặc cao hơn hết là Tuệ).

Những đổi thay bên ngoài với sức hấp dẫn tâm hồn đi vào sự tiến hóa, dù cho sức tiến hóa không nhanh, quan niệm sống của đa số rất khó đổi, khi con người đã quen thuộc với sự sáng tạo của mình.

Họ luôn yêu thích tạo vật mặc dù chúng không có sự sống, không thể sinh hóa được.

Tạo vật của con người được cấu tạo bằng vật liệu chết (không có sự sống) nên chúng không thể sinh hóa được.

Như một tòa nhà cao tầng không thể sinh ra một nhà nhỏ hơn; một chiếc xe tải cũng không sinh ra được một chiếc xe con.

Nhưng con người, vật thụ tạo của Nguyên năng được hình thành bằng những nguyên liệu có sự sống của vũ trụ, vì vậy nó có thể sinh hóa và chuyển hóa.

Sự sống đó được tồn tại bằng sự di truyền của 4 thể linh thiêng trong con người.

Tạo vật của con người không thể sinh hóa được, còn con người có thể sinh hóa và chuyển hóa để tiến hóa đến sự hằng sống.

Rõ ràng, cái tương đối, mãi cho đến muôn đời, dù cho nhiều đến vô kể, cũng không thể nào bằng với sự tuyệt đối được.

Hiểu được như vậy, sự tự hào, tự đại về sự sáng tạo của mình sẽ bớt đi. Và đó cũng là cơ hội và điều kiện thuận lợi để tâm hồn hướng vào những gì tuyệt đối với sức tiến hóa cực nhanh, mà con người đã biết, đã ngưỡng mộ, quí mến và thán phục.

“Quí mến” những đức tính của đời sống tâm linh. Đức hạnh này được nói lên qua những phương tiện thông tin, được lưu giữ qua sách báo, hình ảnh.

“Thán phục” đức hạnh, nghĩa khí trong sự và việc phục vụ con người. Được ca ngợi.

Quan niệm sống quen thuộc khó đổi thay, nhưng không phải không có sự đổi thay, và tâm hồn của loài người ngày nay được biểu hiện như thế nào?

- Ngày nay, Trí độ con người tăng lên rất nhiều có cả sự can dự của Lương Tâm, con người sống gần nhau hơn qua những đức tính được kết hợp trong những cứu trợ có tính cách quốc tế với tính Thiện, và một ít sự chí thiện (thánh thiện).

Về sự sáng tạo, một số ngành khoa học lóe lên sự vận dụng của Siêu Trí.

Sự vận dụng của Siêu Trí trong thời gian gần đây chứng minh phần nào thế kỷ 21, là thời gian khởi đầu đi vào sự hình thành một nền văn minh tâm linh.

Mục tiêu này có thể hiện thực, nếu con người quyết tâm quét sạch mọi ô nhiễm của đời sống tâm linh.

(Ô nhiễm của đời sống tâm linh là những gì gây ra nhục cảm, dục cảm, khoái cảm, và những gì sinh hóa ra chúng, như những kỹ nghệ, nghề nghiệp liên quan đến chúng).

Một nền văn minh lành mạnh và vĩnh cửu là nền văn minh đó phải được xuất nguồn từ đời sống tâm linh thuần túy, trong đó mọi sinh hoạt đều dùng đến linh hồn, không dùng đến tâm hồn như trong nền văn minh tinh thần và vật chất.

Đây là mức tiến hóa cuối cùng của xã hội với sự vận dụng Thiên tính và Nhân tính, loại bỏ hoàn toàn thú tính cùng với sự độc, ác, hung, dữ… trong sinh hoạt.

Sự tiến hóa chơn chính của con người không phải là sự tiến bộ vượt bậc của Trí khôn riêng rẽ, nhưng là sự tiến hóa dựa trên sự vận dụng đồng bộ của Siêu Trí và Lương Tâm.

Đúng theo sự tiến hóa chơn chính, thế kỷ 21 là thế kỷ của sự phát triển Đức và Đạo… không còn là thế kỷ của Phước và Họa liên quan đến mỗi cá nhân, mà Họa phải xảy ra cho cả một vùng rộng lớn, hay nhiều vùng cùng lúc.

Con người ở thế kỷ này lấy Đức làm nền tảng, dùng Siêu Trí để tiến hóa nhân loại. Chơn lý được đem ra giảng dạy để phát triển sự cao thượng, và tính chất siêu nhiên của đức tính, tức là đưa linh hồn vào sinh hoạt.

Thời đại này, chơn lý thay cho sự Thuận lý, hay thấp hơn, là chơn lý và Thuận lý xóa đi Nghịch lý. Hiệu quả của sự thay thế này là con người ở thời đại này không còn khổ tâm, thống Trí nữa.

Siêu Trí thay cho Trí, Lạc (2) thay cho sự khoái cảm. Hay là thời đại này là thời đại của đời sống tinh thần và tâm linh. Con người trở nên thanh cao, siêu thoát, sống nhẹ nhàng thoải mái hơn con người của thế kỷ 20.

Nhưng điều này còn tùy thuộc vào sự khôn ngoan, sáng suốt của con người.

Thời đại này, thiên tài năng xuất hiện nhiều, nhưng thiên tài năng có thể chiếm ưu thế trên sự lan rộng không ngừng của những tệ đoan xã hội hay không?

Nếu con người tiến hóa và sống bằng đời sống tâm linh, thì thời đại đó là thời đại của thiên tài. Hay là, khi thiên tài xuất hiện nhiều, đó là dấu hiệu của đời sống tâm linh.

Nếu sự sáng tạo xuất nguồn từ thiên tài năng và Lương Tâm, đời sống con người trong xã hội thời đó hưởng được sự An và Vui.

Ngày nay, cái Hay, Tài, Giỏi… của con người đạt đến mức cao.

Sự thăng hoa này đòi hỏi nhiều công phu, quyết tâm, ý chí, thời gian… Nhưng, có nhiều thành tích không thể duy trì được mãi.

Cái Hay, cái Đẹp của nền văn minh do 3 yếu tố chính là Thân, Tâm, Trí tạo nên. Nhưng, ngoài cái Hay, Đẹp, Tài, Giỏi, còn có những thứ khác có giá trị quí hơn trong sinh hoạt là sự linh thiêng và mầu nhiệm mà con người không thể khám phá ra qua giác quan.

Sự khám phá bằng sự cảm nghiệm hai yếu tố này cần sự quyết tâm, công phu, ý chí và thời gian. Nhờ vào sự linh thiêng và mầu nhiệm sinh động trong đời sống, nên con người trở thành sinh linh… vượt qua mọi sáng tạo và những tạo vật do con người tạo nên, dù cho chúng có đạt đến mức kỳ diệu.

Đó là sự tiến hóa đúng mức của con người ngày nay.

Con người phải luôn luôn tăng trưởng nội lực, phát triển khả năng của những chức năng thuộc những bộ phận, cơ quan vô hình như Siêu Trí, Tuệ, Siêu Tâm, chơn Tâm, Lương Tâm v.v… đặc biệt là trong thời kỳ, mà tinh lực kém dần.

Sự phát triển đó, là sự tiến hóa đúng mức của con người ở thế kỷ đầu của thiên kỷ thức ba, là dùng quen thuộc sự linh cảm và huyền lực trong những sinh hoạt. Nhờ vào sự siêu việt của nó, con người có thể duy trì được ưu thế trên sự kỳ diệu và tiến bộ nhanh của khoa học ngày nay. Đồng thời, với tính chất siêu nhiên trong sinh hoạt mà tiểu vũ trụ sinh động đồng bộ với năng lực tiên thiên trong vũ trụ.

Sự tiến hóa đúng mức này còn mang tính cách cần thiết cho con người ngày nay và cả tương lai nữa.

Điều này chỉ cần Sự Sáng của Trí khôn nhập vào hệ thống sinh hóa và chuyển hóa của một thể hoặc nhiều thể linh thiêng, thì người đó đã có sự linh cảm về những hiện tượng và sự sinh động của thể đó. Và sau đó, ứng dụng sự linh cảm trong cuộc sống.

Mức tiến hóa cần thiết của những người có Đức Bi ở thời nay và tương lai là dùng Siêu Trí, hoặc cao hơn là Tuệ thay thế cho Trí trong sự hướng dẫn tha nhân.

Hiệu quả của nó giúp cho con người tránh được sai lầm, vì nó vượt qua Lý luận, và luôn cả sự Thuận lý nữa.

Khi vận dụng được Siêu Trí, con người đã cảm nghiệm được sự thoát tục trong sinh hoạt. Nhờ sự giao lưu tình cảm và tư tưởng mà con người thấy được sự kỳ diệu của Tâm và Trí. Nhưng, nếu có sự linh cảm và mầu nhiệm trong đời sống, thì sinh hoạt đã thoát tục, tâm hồn đã siêu thoát.

Và nhờ trải qua cách sống này, con người trở thành vĩ nhân, siêu nhân, thánh nhân…

Mức tiến hóa này là sự chuyển hóa quan trọng của đời người, như vậy những giá trị trong đời sống tinh thần có thể làm nền tảng để phát triển đời sống tâm linh không?

- Đời sống tinh thần không được qui định rõ ràng ở những thành tố liên quan. Có người coi sinh hoạt thuần túy của Trí thuộc về đời sống tinh thần; người khác cho rằng nền tảng của đời sống này là tâm hồn (Tâm, Trí).

Khoa học, kỹ thuật do sự khám phá, sáng tạo của Trí thuần túy. Nghệ thuật, văn học do tâm hồn tạo nên.

Những giá trị tinh thần dựa trên nhân sinh quan được hình thành, không thể làm nền tảng chính yếu để chuyển sang và phát triển đời sống tâm linh được.

Tại sao?

- Vì đời sống này liên quan, tương quan, tương ứng với vũ trụ, do đó mà nền tảng của nó là những gì có, hoặc thuộc về bản chất, bản tính và tính năng của vũ trụ mà trong con người đã sẵn có như Lương Tâm (3) và những bộ phận vô hình sinh động bằng năng lực tiên thiên.


(1) Hiểu biết tăng rất nhiều ở sự khám phá ra nhiều hiện tượng mới – Trí năng tăng, nhưng để giác ngộ được Nguyên lý, con người phải vận dụng đến Siêu Siêu Trí (Tuệ).

(2) “Lạc” là niềm vui của tinh thần, của tâm hồn (của Tâm và Trí).

“Cực lạc” là cái Vui của đời sống tâm linh, của Tuệ và Tánh của vũ trụ trong con người.

(3) Lương Tâm: bộ phận vô hình bao gồm cả nhân sinh quan và Nguyên năng sáng tạo. Từ đây con người có thể cảm nhận và cảm nghiệm được nguồn gốc sinh hóa ra con người.

Đã sao chép liên kết!