KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- Sự mầu nhiệm
- Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu: chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- a. Người bình thường
- b. Người Trí
- c. Người tiến hóa
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- a. Khí kém do hao tán
- b. Khí vượng
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- a. Khí hao
- b. Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sự minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
DƯƠNG VÀ ÂM
Dương và Âm là hai thực thể vô hình đối với nhãn quan, và cũng là hai chức năng hoạt động trong sự sinh hóa và chuyển hóa của các thể linh thiêng. Chúng được tạo nên trong sự sinh động của năng lực có khả năng biến thể, biến tính, biến thái từ sự xúc tác của một nguyên năng (hay là năng lực nguyên thủy).
Chúng sinh động mãi trong vũ trụ cũng như ba chức năng của vũ trụ là Thiên Lý (nguyên lý vũ trụ), Thiên Cơ và Thiên Năng, trong đó tiềm ẩn sự sinh động của Dương và Âm.
- Sự Sáng Dương và Âm sinh động: thuộc về Thiên Cơ.
- Sự Sáng Dương và Âm hòa nhập (Thái Cực): thuộc về Thiên Lý.
Tóm lại:
HÌNH ẢNH
Những gì có Dương và Âm thì linh thiêng, nếu có Thiên Tuệ, Thiên Tánh (hay Thiên Lý) sinh động trong đó, thì mầu nhiệm (như Lương Tâm con người – bộ phận vô hình điều khiển và điều chỉnh tâm địa, tâm hồn con người để trở nên chơn chính).
Con người hầu hết đều hướng nhãn quan ra bên ngoài do nhu cầu của nhục thân, vì vậy không quan sát được sinh hoạt bên trong của tâm hồn liên quan đến sự dao động của ngũ hành, đến sự sinh động của Dương và Âm.
Trong con người:
Dao động: do ngũ hành (đến ngũ tạng khí)
Sinh động: do Dương và Âm
- Ngũ hành dao động thì sinh hóa ra sự kỳ diệu, sinh hóa ra Phước, Họa
Phước: do tâm trạng thuộc về Dương khí, sinh ra sự vui, mừng, yêu
(Dương khí sinh động cảm ứng với tầng tĩnh khí, trên cả những đám mây cực nhẹ. Trên đó, không có những biến động của Khí, Thủy. Cũng vậy, nếu con người đang sống với sự vui, mừng, yêu…, thì không gặp nhân họa, nhưng chưa tránh được Thiên tai, Địa họa).
Họa: do tâm trạng nặng nề của Âm khí, sinh hóa ra giận, lo, sợ.
Ba loại tình cảm này càng dao động nhiều, thì Âm khí càng tăng – Đó là nguyên nhân bên trong tạo ra bệnh do sự phản ứng hóa chất sinh ra từ tâm trạng ảnh hưởng đến các cơ quan.
Giận (nộ khí mạnh) từ 2 đến 4 giờ chiều: đau gan, hoặc mật có sạn.
Lo (sự lo lắng kéo dài): từ 10 đến 12 giờ trưa: tiểu đường, hoặc đau bao tử.
Sợ: từ 4 đến 6 giờ chiều: sạn thận, tiểu đêm.
Những bệnh này là Họa do chính mình gây ra, đồng thời Âm khí của con người cảm ứng với Âm khí bên ngoài, cá nhân này bị lôi cuốn vào vòng Nhân họa, Thiên tai, Địa ách…
- Dương và Âm sinh động, thì có sự chuyển hóa ra Đức, Đạo (2), ra sự linh thiêng.
Từ tính linh thiêng, xúc tác bởi chơn ý (của Thuần Trí, Siêu Trí và Tuệ) mà có sự hiện thực của sự mầu nhiệm.
Cho nên nói rằng: “Ngũ khí của ngũ tạng mà dao động, Tâm là phàm tâm, cuộc sống thuộc về thế gian (dù cho con người có hưởng được Phước).
Nếu con người sống bằng sự sinh động của Dương và Âm, thì cuộc sống của người đó sinh hoạt bằng sự linh thiêng và mầu nhiệm”.
Vì sao?
- Vì Dương và Âm mà sinh động được, là do sự xúc tác của Thiên Tuệ (là nguồn gốc của sự mầu nhiệm và linh thiêng).
Hay là: “Sự xúc tác của Thiên Tuệ là nguyên động lực tác động mãi mãi trong Dương và Âm. Cho nên, người sống bằng Dương và Âm trong bốn thể linh thiêng (Sự Sáng, Điện, Khí, Thủy) mới cảm nhận được Thiên ý, cảm nghiệm được Thiên tánh”.
Nói một cách khác: “Tâm trạng động, ngũ hành trong Thân động – Ngũ hành “động”, “Sinh khắc” phát sinh. Dương và Âm không toát ra sự linh thiêng và mầu nhiệm được”.
Điều này, trong thực tế, cũng đã xảy ra trong nhiều gia đình và ngoài xã hội.
Tại sao một lời nói ra lại trở nên hiện thực, vậy sự hiện thực này do đâu?
- Lời nói của sự trăn trối, căn dặn của cha mẹ, tiên tri… luôn hiện thực trong tương lai, chúng xuất nguồn từ đâu?
- Sự hiện thực trong tương lai là một mầu nhiệm – Mầu nhiệm lại là kết quả của sự linh thiêng.
Linh thiêng chỉ sinh động bên trong Thân, trong nội lực – Nguồn gốc của nội lực ở não. Não bộ chứa sự sinh động, sự sống của những thể linh thiêng. Còn ngũ tạng, lục phủ thì chứa đựng sự dao động của những thể linh thiêng.
Dương và Âm trong con người và bên ngoài con người, tức là trong cả vũ trụ, thì chúng linh thiêng và mầu nhiệm. Còn ngũ hành thì chỉ dùng để thể hiện sự linh thiêng.
“Sự sống có trong Dương và Âm, còn sức sống thì ở ngũ hành”.
Trong con người, những bộ phận vô hình có Dương, Âm, mầu nhiệm và linh thiêng là: Lương Tâm, Chơn Tâm, Tánh, Chơn Tánh, Chơn Trí, Tuệ…
Lời nói xuất nguồn từ những bộ phận vô hình có Dương và Âm… đều hiện thực được (3) , vì nó không thuộc về bản ngã cá nhân nữa.
Dương và Âm sinh động cùng khắp cả vũ trụ, ngay cả đến trong tạo vật (siêu hình và vô hình).
Những gì được sinh ra từ Dương và Âm của một thể linh thiêng hoặc nhiều thể linh thiêng mà có sức sống đều là tạo vật, không phải chỉ những gì cảm nhận được bằng giác quan như tư tưởng.
Tư tưởng nẩy sinh từ Sự Sáng mà giác quan không cảm nhận được, chỉ có Sự Sáng của Trí mới cảm, mới thấy được.
Nó có sức sống được sinh ra từ sự sống. Nó có hình dáng, nhưng hình dáng này được tạo nên bằng nhân điện. Như vậy, tư tưởng là một tạo vật.
Tình cảm cũng là một tạo vật được kết thành do Khí và Điện, xuất nguồn từ tư tưởng. Nó có sức sống, sức rung động, ảnh hưởng đến Khí, Huyết trong nhục thân, tác động có lợi, hoặc có hại cho sức khỏe tùy theo loại tình cảm.
Con người là một tiểu vũ trụ – Và vũ trụ này cũng tạo ra vô số tạo vật trong nó. Những tạo vật được tạo nên từ mỗi thể linh thiêng, hoặc từ nhiều thể linh thiêng qua sự tác động của Dương và Âm.
Trong 3 tạo vật tư tưởng, tình cảm, cảm giác thì cảm giác phối hợp nhiều thể linh thiêng sinh động hơn là tư tưởng.
Ngược lại, tư tưởng là một tạo vật có sức sống mạnh hơn là cảm giác, vì nó thuộc về lực siêu nhiên.
Trong chức năng sinh hóa và chuyển hóa, mỗi thể linh thiêng đều có Dương và Âm. Hay là, mỗi thể linh thiêng có một hệ thống liên quan đến sự sinh động của Dương và Âm của thể đó.
Thí dụ: Thể Thủy (Huyết) gồm có:
- Sự tuần hoàn (của máu đen, máu đỏ)
- Sự xúc tác của những hệ trung gian
- Sự xúc tác của những thể khác để chuyển hóa.
Sinh hoạt của con người xem như rất bình thường đối với nhãn quan, nhưng sự sinh động bên trong khó nhận ra, trong đó có luôn cả sự sinh hóa của ngũ hành, sự chuyển hóa của Dương và Âm:
“Thân” thuộc về ngũ hành, liên quan đến năm, tháng, ngày, giờ…, tức là còn liên quan đến yếu tố thời gian, liên quan đến “tiêu trưởng” (tiêu hao, tăng trưởng), “sinh khắc” của ngũ hành. “Tiêu trưởng, sinh khắc” là còn trong vòng Phước, Họa.
Phước, Họa liên quan đến thời gian, nên sự may, rủi xảy đến có năm, tháng, ngày, giờ…
Tâm, Trí thuộc về Dương và Âm.
Nhưng cả 2 loại Dương và Âm này cũng tạo ra sự sinh hóa của ngũ hành do tư tưởng (Trí) do tình cảm (Tâm).
Tư tưởng tác động đến tình cảm để sinh hóa ra ngũ hành (tác động đến Thanh khí, trược khí, độc khí) trong ngũ tạng mà sinh ra Phước, Họa…, tạo nên mầm móng mới từ Trí và Tâm (4).
Chơn Trí, Chơn Tâm, Lương Tâm dù có sinh động, cũng là Dương và Âm sinh động.
Trí suy nghĩ về Lý, ngũ hành không sinh động, nên không có sự sinh hóa của ngũ hành.
Lương Tâm sinh động cũng vậy, ngũ hành chẳng sinh hóa.
Như vậy, Dương và Âm dù có sinh động, nhưng không sinh hóa ra ngũ hành, thì Dương và Âm sinh động trong sự tiến hóa.
Nhờ vào sự hiểu biết này, chơn đạo và các chánh đạo dùng Chơn Tâm, Chơn Trí, Lương Tâm, tu, sinh hoạt… để hóa giải Họa, Phước của nhục thân, làm tăng sinh động của Tâm, Trí tức là làm tăng sự sinh động của Dương và Âm, hóa giải sự sinh hóa của ngũ hành, xóa luôn sự Sinh, Diệt của thế giới tự nhiên, xóa “Nghiệp”.
Đến cùng đích chẳng phải dễ, nếu ta không thấu triệt được sinh hoạt.
Trong con người, bộ phận vô hình nào còn vương vào ngũ hành, và bộ phận vô hình nào sinh động bằng Dương và Âm của Sự Sáng của vũ trụ?
- Tâm: thuộc ngũ hành, do con người tạo nên – Nó thuộc về địa cầu.
- Tánh: có Dương và Âm, xuất nguồn từ Sự Sáng của vũ trụ, trong đó sinh động Thiên Lý – Nó thuộc về vũ trụ.
Tâm là nơi chứa đựng tâm trạng – Tâm trạng có ngũ khí sinh động. Nó có Sinh, có Khắc.
“Sinh, Khắc” là gốc của Phước, Họa – Và Phước, Họa xảy ra cho nhục thân, là do Tâm vậy.
Tâm ở đâu?
- Ở đầu (não) và liên quan đến ngũ tạng.
Đầu thuộc về Trời (vũ trụ), ngũ tạng thuộc về Thân, thuộc về Đất (địa cầu).
Như vậy, Tâm liên quan đến vũ trụ và địa cầu.
Do đó, người sống bằng phàm tâm còn vương ngũ hành.
Nghiệp của Tâm chưa dứt, luân hồi (quay đi trở lại để tiến hóa) ở địa cầu.
Tánh thuộc về Dương và Âm của Sự Sáng - Sự Sáng thuộc về Trí.
Trí sinh hóa ra tư tưởng. Sự sinh hóa này chỉ có Sinh và Sinh mãi, không có Khắc, không có Diệt.
Tánh (hồn nhiên, siêu nhiên) có trong Sự Sáng của Trí.
Sự Sáng của Trí được tạo nên do Sự Sáng của vũ trụ. Sự Sáng của vũ trụ sinh hóa được nhờ Dương và Âm, trong đó đã có Thiên Lý. Và Thiên Lý xuất nguồn từ Thiên Tuệ.
Hay là:
Thiên Lý có trước sự sinh động, sinh hóa của Sự Sáng (thể sáng) Dương và Âm, do sự xúc tác của Thiên Tuệ vào Sự Sáng, sự sống nguyên thủy.
Trí con người được tạo nên từ Sự Sáng nguyên thủy của vũ trụ. Nó cũng có Dương và Âm sinh động, sinh hóa, đồng bản chất, bản tính, đồng tính năng với Sự Sáng nguyên thủy của vũ trụ.
Từ sự hiện hữu của Trí, đi ngược lại nguồn gốc sinh hóa nó, ta thấy được gì?
- Từ sự sinh động của nó, ta có thể tìm ra bản chất, bản tính và tính năng của vũ trụ, sự sinh hóa với tất cả những gì do Sự Sáng (thể sáng) tạo nên, như Thiên Cơ, Thiên năng và vô số những hiện tượng khác.
Từ sự xuất hiện của Trí, theo sự diễn tiến của sự tiến hóa, con người có suy nghĩ và có biết mình làm gì không?
- Con người là một tạo vật, một sinh linh có Sự Sáng của vũ trụ, mà năng lực này được tăng thêm do sự sinh động và hoạt động do các chức năng của Trí.
Đây là sự cung cấp năng lượng, năng lực cho vũ trụ từ một thụ tạo. Hay là, con người được sinh ra từ năng lực nguyên thủy, rồi sau đó thu hút thêm năng lượng, sức sống và sự sống được tăng thêm, và cuối cùng trả năng lượng, năng lực về cho vũ trụ với chức năng Sinh mà không còn có Diệt nữa. Trạng thái này đưa đến sự hợp nhất của Dương và Âm của Sự Sáng.
Trong bốn thể linh thiêng, thể nào còn Dương và Âm sinh động, thể đó đang trong vòng sinh hóa, còn dịch kỳ chuyển động, là còn Sinh còn Diệt. Khi nào Dương và Âm hợp nhất, thể đó tự chuyển hóa, chỉ còn Sinh mà không còn Diệt nữa.
(1) Ngũ hành tiên thiên, hậu thiên sinh động thì có Sinh có Diệt (có Sinh, có khắc chế lẫn nhau) trong chu kỳ của ngũ hành, tức là có biến hóa, biến tướng, biến thái… thuộc về vô thường (những gì luôn biến đổi).
(2) Đức, Đạo không phải là những từ mơ hồ, trừu tượng mà chúng là những sinh động vô hình của tâm hồn, linh hồn, Lương Tâm, tánh siêu nhiên và siêu siêu nhiên… làm cho con người trở nên siêu việt. Còn Phước, Họa… liên quan đến nhục thân, hiệu quả của chúng dễ nhận ra. Người sống bằng Đức, Đạo luôn hưởng được chơn phước, tránh được Họa.
(3) Siêu ý hoặc siêu siêu ý của Siêu Trí và Tuệ tác động vào Dương và Âm của Sự Sáng hay Điện… thì “lời nói hay ý đó” được thực hiện.
(4) Điện và Sự Sáng (của tình cảm và tư tưởng) hòa vào khí, sinh ra nhiều tính chất khác nhau, có phản ứng hóa chất. Hay là, Điện và Sự Sáng hòa vào Khí của ngũ tạng sinh ra Thanh khí, Độc khí hoặc Trược khí trong nhục thân.
Độc, Ác, Dữ của tư tưởng hòa vào Khí…, sinh hóa ra Độc khí. Phiền não, ưu sầu… hòa với Khí… sinh hóa ra Trược khí.