KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

DƯƠNG VÀ ÂM

Dương và Âm là hai thực thể vô hình đối với nhãn quan, và cũng là hai chức năng hoạt động trong sự sinh hóa và chuyển hóa của các thể linh thiêng. Chúng được tạo nên trong sự sinh động của năng lực có khả năng biến thể, biến tính, biến thái từ sự xúc tác của một nguyên năng (hay là năng lực nguyên thủy).

Chúng sinh động mãi trong vũ trụ cũng như ba chức năng của vũ trụ là Thiên Lý (nguyên lý vũ trụ), Thiên Cơ và Thiên Năng, trong đó tiềm ẩn sự sinh động của Dương và Âm.

- Sự Sáng Dương và Âm sinh động: thuộc về Thiên Cơ.

- Sự Sáng Dương và Âm hòa nhập (Thái Cực): thuộc về Thiên Lý.

Tóm lại:

HÌNH ẢNH

Những gì có Dương và Âm thì linh thiêng, nếu có Thiên Tuệ, Thiên Tánh (hay Thiên Lý) sinh động trong đó, thì mầu nhiệm (như Lương Tâm con người – bộ phận vô hình điều khiển và điều chỉnh tâm địa, tâm hồn con người để trở nên chơn chính).

Con người hầu hết đều hướng nhãn quan ra bên ngoài do nhu cầu của nhục thân, vì vậy không quan sát được sinh hoạt bên trong của tâm hồn liên quan đến sự dao động của ngũ hành, đến sự sinh động của Dương và Âm.

Trong con người:

Dao động: do ngũ hành (đến ngũ tạng khí)

Sinh động: do Dương và Âm

- Ngũ hành dao động thì sinh hóa ra sự kỳ diệu, sinh hóa ra Phước, Họa

Phước: do tâm trạng thuộc về Dương khí, sinh ra sự vui, mừng, yêu

(Dương khí sinh động cảm ứng với tầng tĩnh khí, trên cả những đám mây cực nhẹ. Trên đó, không có những biến động của Khí, Thủy. Cũng vậy, nếu con người đang sống với sự vui, mừng, yêu…, thì không gặp nhân họa, nhưng chưa tránh được Thiên tai, Địa họa).

Họa: do tâm trạng nặng nề của Âm khí, sinh hóa ra giận, lo, sợ.

Ba loại tình cảm này càng dao động nhiều, thì Âm khí càng tăng – Đó là nguyên nhân bên trong tạo ra bệnh do sự phản ứng hóa chất sinh ra từ tâm trạng ảnh hưởng đến các cơ quan.

Giận (nộ khí mạnh) từ 2 đến 4 giờ chiều: đau gan, hoặc mật có sạn.

Lo (sự lo lắng kéo dài): từ 10 đến 12 giờ trưa: tiểu đường, hoặc đau bao tử.

Sợ: từ 4 đến 6 giờ chiều: sạn thận, tiểu đêm.

Những bệnh này là Họa do chính mình gây ra, đồng thời Âm khí của con người cảm ứng với Âm khí bên ngoài, cá nhân này bị lôi cuốn vào vòng Nhân họa, Thiên tai, Địa ách…

- Dương và Âm sinh động, thì có sự chuyển hóa ra Đức, Đạo (2), ra sự linh thiêng.

Từ tính linh thiêng, xúc tác bởi chơn ý (của Thuần Trí, Siêu Trí và Tuệ) mà có sự hiện thực của sự mầu nhiệm.

Cho nên nói rằng: “Ngũ khí của ngũ tạng mà dao động, Tâm là phàm tâm, cuộc sống thuộc về thế gian (dù cho con người có hưởng được Phước).

Nếu con người sống bằng sự sinh động của Dương và Âm, thì cuộc sống của người đó sinh hoạt bằng sự linh thiêng và mầu nhiệm”.

Vì sao?

- Vì Dương và Âm mà sinh động được, là do sự xúc tác của Thiên Tuệ (là nguồn gốc của sự mầu nhiệm và linh thiêng).

Hay là: “Sự xúc tác của Thiên Tuệ là nguyên động lực tác động mãi mãi trong Dương và Âm. Cho nên, người sống bằng Dương và Âm trong bốn thể linh thiêng (Sự Sáng, Điện, Khí, Thủy) mới cảm nhận được Thiên ý, cảm nghiệm được Thiên tánh”.

Nói một cách khác: “Tâm trạng động, ngũ hành trong Thân động – Ngũ hành “động”, “Sinh khắc” phát sinh. Dương và Âm không toát ra sự linh thiêng và mầu nhiệm được”.

Điều này, trong thực tế, cũng đã xảy ra trong nhiều gia đình và ngoài xã hội.

Tại sao một lời nói ra lại trở nên hiện thực, vậy sự hiện thực này do đâu?

- Lời nói của sự trăn trối, căn dặn của cha mẹ, tiên tri… luôn hiện thực trong tương lai, chúng xuất nguồn từ đâu?

- Sự hiện thực trong tương lai là một mầu nhiệm – Mầu nhiệm lại là kết quả của sự linh thiêng.

Linh thiêng chỉ sinh động bên trong Thân, trong nội lực – Nguồn gốc của nội lực ở não. Não bộ chứa sự sinh động, sự sống của những thể linh thiêng. Còn ngũ tạng, lục phủ thì chứa đựng sự dao động của những thể linh thiêng.

Dương và Âm trong con người và bên ngoài con người, tức là trong cả vũ trụ, thì chúng linh thiêng và mầu nhiệm. Còn ngũ hành thì chỉ dùng để thể hiện sự linh thiêng.

“Sự sống có trong Dương và Âm, còn sức sống thì ở ngũ hành”.

Trong con người, những bộ phận vô hình có Dương, Âm, mầu nhiệm và linh thiêng là: Lương Tâm, Chơn Tâm, Tánh, Chơn Tánh, Chơn Trí, Tuệ…

Lời nói xuất nguồn từ những bộ phận vô hình có Dương và Âm… đều hiện thực được (3) , vì nó không thuộc về bản ngã cá nhân nữa.

Dương và Âm sinh động cùng khắp cả vũ trụ, ngay cả đến trong tạo vật (siêu hình và vô hình).

Những gì được sinh ra từ Dương và Âm của một thể linh thiêng hoặc nhiều thể linh thiêng mà có sức sống đều là tạo vật, không phải chỉ những gì cảm nhận được bằng giác quan như tư tưởng.

Tư tưởng nẩy sinh từ Sự Sáng mà giác quan không cảm nhận được, chỉ có Sự Sáng của Trí mới cảm, mới thấy được.

Nó có sức sống được sinh ra từ sự sống. Nó có hình dáng, nhưng hình dáng này được tạo nên bằng nhân điện. Như vậy, tư tưởng là một tạo vật.

Tình cảm cũng là một tạo vật được kết thành do Khí và Điện, xuất nguồn từ tư tưởng. Nó có sức sống, sức rung động, ảnh hưởng đến Khí, Huyết trong nhục thân, tác động có lợi, hoặc có hại cho sức khỏe tùy theo loại tình cảm.

Con người là một tiểu vũ trụ – Và vũ trụ này cũng tạo ra vô số tạo vật trong nó. Những tạo vật được tạo nên từ mỗi thể linh thiêng, hoặc từ nhiều thể linh thiêng qua sự tác động của Dương và Âm.

Trong 3 tạo vật tư tưởng, tình cảm, cảm giác thì cảm giác phối hợp nhiều thể linh thiêng sinh động hơn là tư tưởng.

Ngược lại, tư tưởng là một tạo vật có sức sống mạnh hơn là cảm giác, vì nó thuộc về lực siêu nhiên.

Trong chức năng sinh hóa và chuyển hóa, mỗi thể linh thiêng đều có Dương và Âm. Hay là, mỗi thể linh thiêng có một hệ thống liên quan đến sự sinh động của Dương và Âm của thể đó.

Thí dụ: Thể Thủy (Huyết) gồm có:

- Sự tuần hoàn (của máu đen, máu đỏ)

- Sự xúc tác của những hệ trung gian

- Sự xúc tác của những thể khác để chuyển hóa.

Sinh hoạt của con người xem như rất bình thường đối với nhãn quan, nhưng sự sinh động bên trong khó nhận ra, trong đó có luôn cả sự sinh hóa của ngũ hành, sự chuyển hóa của Dương và Âm:

“Thân” thuộc về ngũ hành, liên quan đến năm, tháng, ngày, giờ…, tức là còn liên quan đến yếu tố thời gian, liên quan đến “tiêu trưởng” (tiêu hao, tăng trưởng), “sinh khắc” của ngũ hành. “Tiêu trưởng, sinh khắc” là còn trong vòng Phước, Họa.

Phước, Họa liên quan đến thời gian, nên sự may, rủi xảy đến có năm, tháng, ngày, giờ…

Tâm, Trí thuộc về Dương và Âm.

Nhưng cả 2 loại Dương và Âm này cũng tạo ra sự sinh hóa của ngũ hành do tư tưởng (Trí) do tình cảm (Tâm).

Tư tưởng tác động đến tình cảm để sinh hóa ra ngũ hành (tác động đến Thanh khí, trược khí, độc khí) trong ngũ tạng mà sinh ra Phước, Họa…, tạo nên mầm móng mới từ Trí và Tâm (4).

Chơn Trí, Chơn Tâm, Lương Tâm dù có sinh động, cũng là Dương và Âm sinh động.

Trí suy nghĩ về Lý, ngũ hành không sinh động, nên không có sự sinh hóa của ngũ hành.

Lương Tâm sinh động cũng vậy, ngũ hành chẳng sinh hóa.

Như vậy, Dương và Âm dù có sinh động, nhưng không sinh hóa ra ngũ hành, thì Dương và Âm sinh động trong sự tiến hóa.

Nhờ vào sự hiểu biết này, chơn đạo và các chánh đạo dùng Chơn Tâm, Chơn Trí, Lương Tâm, tu, sinh hoạt… để hóa giải Họa, Phước của nhục thân, làm tăng sinh động của Tâm, Trí tức là làm tăng sự sinh động của Dương và Âm, hóa giải sự sinh hóa của ngũ hành, xóa luôn sự Sinh, Diệt của thế giới tự nhiên, xóa “Nghiệp”.

Đến cùng đích chẳng phải dễ, nếu ta không thấu triệt được sinh hoạt.

Trong con người, bộ phận vô hình nào còn vương vào ngũ hành, và bộ phận vô hình nào sinh động bằng Dương và Âm của Sự Sáng của vũ trụ?

- Tâm: thuộc ngũ hành, do con người tạo nên – Nó thuộc về địa cầu.

- Tánh: có Dương và Âm, xuất nguồn từ Sự Sáng của vũ trụ, trong đó sinh động Thiên Lý – Nó thuộc về vũ trụ.

Tâm là nơi chứa đựng tâm trạng – Tâm trạng có ngũ khí sinh động. Nó có Sinh, có Khắc.

“Sinh, Khắc” là gốc của Phước, Họa – Và Phước, Họa xảy ra cho nhục thân, là do Tâm vậy.

Tâm ở đâu?

- Ở đầu (não) và liên quan đến ngũ tạng.

Đầu thuộc về Trời (vũ trụ), ngũ tạng thuộc về Thân, thuộc về Đất (địa cầu).

Như vậy, Tâm liên quan đến vũ trụ và địa cầu.

Do đó, người sống bằng phàm tâm còn vương ngũ hành.

Nghiệp của Tâm chưa dứt, luân hồi (quay đi trở lại để tiến hóa) ở địa cầu.

Tánh thuộc về Dương và Âm của Sự Sáng - Sự Sáng thuộc về Trí.

Trí sinh hóa ra tư tưởng. Sự sinh hóa này chỉ có Sinh và Sinh mãi, không có Khắc, không có Diệt.

Tánh (hồn nhiên, siêu nhiên) có trong Sự Sáng của Trí.

Sự Sáng của Trí được tạo nên do Sự Sáng của vũ trụ. Sự Sáng của vũ trụ sinh hóa được nhờ Dương và Âm, trong đó đã có Thiên Lý. Và Thiên Lý xuất nguồn từ Thiên Tuệ.

Hay là:

Thiên Lý có trước sự sinh động, sinh hóa của Sự Sáng (thể sáng) Dương và Âm, do sự xúc tác của Thiên Tuệ vào Sự Sáng, sự sống nguyên thủy.

Trí con người được tạo nên từ Sự Sáng nguyên thủy của vũ trụ. Nó cũng có Dương và Âm sinh động, sinh hóa, đồng bản chất, bản tính, đồng tính năng với Sự Sáng nguyên thủy của vũ trụ.

Từ sự hiện hữu của Trí, đi ngược lại nguồn gốc sinh hóa nó, ta thấy được gì?

- Từ sự sinh động của nó, ta có thể tìm ra bản chất, bản tính và tính năng của vũ trụ, sự sinh hóa với tất cả những gì do Sự Sáng (thể sáng) tạo nên, như Thiên Cơ, Thiên năng và vô số những hiện tượng khác.

Từ sự xuất hiện của Trí, theo sự diễn tiến của sự tiến hóa, con người có suy nghĩ và có biết mình làm gì không?

- Con người là một tạo vật, một sinh linh có Sự Sáng của vũ trụ, mà năng lực này được tăng thêm do sự sinh động và hoạt động do các chức năng của Trí.

Đây là sự cung cấp năng lượng, năng lực cho vũ trụ từ một thụ tạo. Hay là, con người được sinh ra từ năng lực nguyên thủy, rồi sau đó thu hút thêm năng lượng, sức sống và sự sống được tăng thêm, và cuối cùng trả năng lượng, năng lực về cho vũ trụ với chức năng Sinh mà không còn có Diệt nữa. Trạng thái này đưa đến sự hợp nhất của Dương và Âm của Sự Sáng.

Trong bốn thể linh thiêng, thể nào còn Dương và Âm sinh động, thể đó đang trong vòng sinh hóa, còn dịch kỳ chuyển động, là còn Sinh còn Diệt. Khi nào Dương và Âm hợp nhất, thể đó tự chuyển hóa, chỉ còn Sinh mà không còn Diệt nữa.


(1) Ngũ hành tiên thiên, hậu thiên sinh động thì có Sinh có Diệt (có Sinh, có khắc chế lẫn nhau) trong chu kỳ của ngũ hành, tức là có biến hóa, biến tướng, biến thái… thuộc về vô thường (những gì luôn biến đổi).

(2) Đức, Đạo không phải là những từ mơ hồ, trừu tượng mà chúng là những sinh động vô hình của tâm hồn, linh hồn, Lương Tâm, tánh siêu nhiên và siêu siêu nhiên… làm cho con người trở nên siêu việt. Còn Phước, Họa… liên quan đến nhục thân, hiệu quả của chúng dễ nhận ra. Người sống bằng Đức, Đạo luôn hưởng được chơn phước, tránh được Họa.

(3) Siêu ý hoặc siêu siêu ý của Siêu Trí và Tuệ tác động vào Dương và Âm của Sự Sáng hay Điện… thì “lời nói hay ý đó” được thực hiện.

(4) Điện và Sự Sáng (của tình cảm và tư tưởng) hòa vào khí, sinh ra nhiều tính chất khác nhau, có phản ứng hóa chất. Hay là, Điện và Sự Sáng hòa vào Khí của ngũ tạng sinh ra Thanh khí, Độc khí hoặc Trược khí trong nhục thân.

Độc, Ác, Dữ của tư tưởng hòa vào Khí…, sinh hóa ra Độc khí. Phiền não, ưu sầu… hòa với Khí… sinh hóa ra Trược khí.

Đã sao chép liên kết!