KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

NĂNG LỰC

Cái gì, điều gì mà con người cảm nhận được bằng bất cứ một phương tiện, giác quan hay những bộ phận vô hình nào, chúng cũng chứa đựng cái “Lý” trong đó.

Cái “Lý” là nguồn gốc của nguyên nhân – Tại sao lại phí thời giờ đi tìm nhân duyên?

Bám mãi vào nhân duyên mà suy nghĩ, bàn luận, cớ gì không tìm nguồn gốc sinh hóa của nhân duyên, là nguyên nhân – Nếu đã hiểu nguyên nhân rồi, chẳng còn gì phải suy nghĩ nhiều nữa.

Nguyên nhân là gì?

- Nguyên nhân là sự sinh động vô hình, đến khi sự sinh động đó chuyển động mới có nhân duyên. Hay ngược lại:

Sự sinh động nguyên thủy là nguyên nhân. Từ sự chuyển động; mới có nhân duyên, có sinh hóa.

Tương tự như Trí là sự sinh động nguyên thủy, từ đó tư tưởng được sinh hóa, kết hợp với ngoại cảnh, tâm trạng mà sinh ra sự, việc. Và từ sự, việc đó, lại sinh hóa ra vô tận những sự việc khác

Cái cốt yếu của nhân duyên là sinh hóa. Sự sinh hóa do ít, nhiều nhân tố hợp lại, mang tính cách đa nguyên (nhiều nguồn gốc sinh hóa). Hay là, nhiều “nhân duyên sinh hóa”, từ một nguyên nhân nguyên thủy.

Các nhân tố hợp lại trong sự sinh hóa, sinh tạo ra nhiều sức sống khác nhau (dài hay ngắn tùy theo sức sống của thể linh thiêng kết hợp lại với nhau), do đó mới có bản thể, bản tướng, bản thái… của những sinh tạo mới – Và do “sức sống duy trì được khác nhau”, cho nên mới có biến thể, biến tướng, biến thái.

(Các nhà khoa học quân sự trong sự thắng, bại trên bình diện quân sự thuần túy, chỉ biết dùng một năng lực mạnh để chế ngự một năng lực khác. Trái lại, đạo nhân, chân sư lại dùng “năng lực tự tạo lấy năng lực” trong con người để kéo dài sức sống cho một lực khác. Hay là biết dùng Sự Sáng để tăng thêm và kéo dài sức sống cho các thể linh thiêng là Điện, Khí, Thủy).

Căn cứ trên sức sống sinh hóa từ nhân duyên, mọi sinh tạo đều biển lộ ra sự tương đối.

Sinh hóa vô tận, nhân duyên vô số, sinh tạo vô tận…, thì sự tương đối cũng theo đó, trở nên vô tận.

Nhân duyên mang tính cách tương đối, tìm cái vô tận trong sự tương đối, thì đến bao giờ ta mới tìm được sự tuyệt đối, và duy trì mãi sự tuyệt đối đó ở trong ta.

Sự tuyệt đối đó không có trong nhân duyên, trong mọi sinh tạo, vậy sự tuyệt đối ở đâu?

- Trong “nguyên nhân nguyên thủy” sinh hóa ra những nguyên nhân phụ, và dây chuyền khác, mới có sự tuyệt đối. Hay là:

Sự tuyệt đối chỉ có trong nguyên nhân nguyên thủy, còn trong sự sinh hóa chỉ có tương đối.

Cũng vậy “hiện tượng thì vô tận, mà nguyên nhân chỉ có một”.

Như vậy, phải hướng về đâu để tìm ra sự tuyệt đối, sự tương đối, năng lực, sự sống, sự hằng sống v.v…?

- Con người hướng nhìn về đâu thì Tâm, Trí cũng hướng về đó.

Tâm Trí ở đâu, thì ý nghĩ cũng ở đó. Ý nghĩ lôi cuốn mọi sinh hoạt theo về hướng đó. Cuộc sống con người hoàn toàn đổi thay.

Cái nhìn hướng về vũ trụ, cuộc sống hướng về Thiên Lý, Thiên Cơ, Thiên Năng.

Cái nhìn hướng về tha nhân với tình thương thì sinh hoạt mang tính cách phục vụ.

Hướng về sự thụ hưởng của nhục thân, mọi sinh hoạt chỉ hướng về mình.

Cái nhìn hướng ra ngoài, mọi sinh hoạt hướng ra sự tự nhiên, thiên nhiên.

Nhưng sự siêu nhiên và siêu siêu nhiên mà con người cảm nhận, cảm nghiệm được đều ở trong. Muốn tìm, con người phải hoàn toàn hướng vào trong – một tiểu vũ trụ có tất cả những gì con người cần tìm như năng lực, nguyên nhân, nguyên lý (trong đó gồm có cả sự Thuận Lý, Chơn Lý, Đạo Lý, Phước, Đức, Đạo, sự sống, sự hằng sống v.v…).

Cho nên, đi tìm tất cả những gì mà con người chưa tìm ra, hoặc không thể khám phá ra từ bên ngoài, thì phải quay nhãn quan vào trong, và quan trọng nhất, đó là sự định hướng.

Định cho đúng hướng, là một sự rất khó, còn nhắm vào cho đúng đích, lại còn khó hơn, như cầm cung nhắm bắn vào lổ nhỏ chỉ vừa mũi tên xuyên qua.

Nhắm đúng hướng của mũi tên xuyên qua được lổ nhỏ, con người tốn bao nhiêu thời giờ, kiên nhẫn, sáng suốt để có được sự chính xác như vậy.

Nhận xét trên thực tế về hai cách, nhìn bên ngoài và bên trong giữa các nhà khoa học và đạo nhân.

Các khoa học gia tìm ra cái Lý trong những tạo vật và những hiện tượng hữu hình, nhưng các đạo nhân thì kiếm cái Lý trong tạo vật, trong những hiện tượng siêu hình và vô hình. Nhờ đó, họ khám phá ra sự mầu nhiệm trong cái Lý, và sự sáng tạo của Thiên Tuệ trong đó.

Vì vậy, có sự khác biệt giữa hai sự khám phá ra cái Lý.

Đối với khoa học, con người tìm ra được sự kỳ diệu, với đạo nhân, là sự mầu nhiệm.

Kỳ diệu đem lại sự thích thú tinh thần, mầu nhiệm khởi nguồn cho sự hoan lạc tâm linh, cho nên sinh hoạt của họ luôn gắn liền vào đó, để rồi thụ hưởng trong sự tiến hóa.

Không phải tất cả mọi người đều nhận ra điều này, huống gì là để Tâm, Trí vào việc tìm kiếm nguồn gốc sinh hóa ra mình.

Nhưng đáng thương hơn nữa, là tự cho mình là một sinh tạo tự hữu (tự có)

Cứ cho mình là tự hữu, thì con người đã biết sử dụng sự kỳ diệu, linh thiêng và mầu nhiệm ngay từ lúc mới được sinh ra, và chẳng bao giờ biết được mình từ đâu, và do đâu mà có.

Ngược lại, khi con người biết mình là không tự hữu (không tự có), thì sẽ biết mình là một thụ tạo sinh động bằng nhiều loại năng lực, có sự sống và nhiều loại sức sống.

Hay nói một cách khác, là “sự sống và sức sống” đều là năng lực, tức là “con người sống bằng năng lực”.

Không riêng về con người sống bằng năng lực mà tất cả sinh vật, động vật, thực vật… có sự biến thể, biến tướng, biến thái cũng hàm chứa và sinh động bằng năng lực

Vậy năng lực là gì?

- Là sự sinh động của một thể, hay của bất cứ một thể nào dưới dạng hữu hình hay siêu hình hay siêu siêu hình. Quan trọng nhất trong mọi năng lực, đó là năng lực nguyên thủy có tính hằng hữu (hằng có). Nó thuộc về tánh, và cũng là một trong những thành tố của vũ trụ.

Tại sao những gì thuộc về tánh của vũ trụ, hay là những gì thuộc về thành tố của vũ trụ đều là hằng hữu (hằng có)?

- Hằng hữu (hằng có) không phải là “cái Có” đơn giản như cái Có của người đời, về của cải, tài sản…, Có rồi lại mất, hay là mất rồi lại Có.

Nhưng trong sự “hằng hữu vô hình” này có sự “hằng sống động”, và trong đó có một “năng lực tự tạo”. Chính nó tự tạo lấy năng lực cho nó, và tự làm tăng trưởng năng lực của nó.

Nhờ đó, mà những thành tố của vũ trụ tăng thêm năng lực.

Như vậy:

Trong “sự hằng hữu”, phải có sự hằng sinh động. Trong sự hằng sinh động, có một “năng lực tự tạo”. “Năng lực tự tạo”, tự tạo lấy năng lực cho nó. “Tự tạo năng lực”, là làm cho năng lực đó tăng trưởng.

Nhờ vào đâu mà sự sáng tạo của vũ trụ vẫn tiếp tục mãi mãi?

- Sự sáng tạo của vũ trụ không phải xảy ra một lần rồi chấm dứt. Nó vẫn tiếp tục mãi mãi nhờ vào sự hằng hữu của các thành tố của vũ trụ trong chức năng sáng tạo.

Từ sự hằng hữu của các thành tố của vũ trụ, con người mới nhận ra sự tuyệt đối từ nguyên thủy.

Trong sự tuyệt đối không có tính cách đối đãi, so sánh.

Những gì vũ trụ chứa đựng đều mang tính cách tương đối, nhưng nó thì tuyệt đối. Nguồn gốc sinh hóa cũng tuyệt đối, vì vậy mà “thể nguyên thủy” của nó là Sự Sáng (1) (sự sống) cũng tuyệt đối.

Tiểu vũ trụ cũng vậy, Sự Sáng (sự sống) cũng tuyệt đối, bởi vì nó là “thể nguyên thủy”, nó sinh hóa ra những thể khác mang tính tương đối.

Nhờ vào phần tuyệt đối này, mà con người lớn hơn địa cầu, chế ngự, khắc phục và điều khiển được mọi tạo vật khác. Thân người tuy rất nhỏ so với diện tích địa cầu, nhưng nhờ vào Sự Sáng của Trí. Tầm quang tỏa của Sự Sáng của Trí bao trùm cả địa cầu, châu biến đến những hành tinh cực xa qua thị giác, chưa nói đến tầm nhìn của Tuệ nhãn bao trùm toàn diện (mọi phương, mọi phía) với sự thấy 3600 (mà danh từ của đạo pháp gọi là toàn kiến. Toàn kiến mới toàn tri được).

(Hiện tượng này tương tự như máy phát sóng của điện thoại di động, máy tuy nhỏ, nhưng cường độ của điện mạnh, thì vùng phủ sóng càng rộng).

Tóm lại: “Những gì xuất nguồn từ sự tuyệt đối đều mang tính tuyệt đối, như cái "Lý" vô hình và mầu nhiệm là nguồn gốc sáng tạo, sinh hóa (2)… thì mọi sáng tạo, sinh hóa từ cái Lý cũng mang cái tính tuyệt đối vậy.

Liên quan đến năng lực nguyên thủy, đến Sự Sáng, sự sống, trong ba đời sống (vật chất, tinh thần, và tâm linh), chỉ có đời sống tâm linh mới đưa sinh hoạt con người vào sự tuyệt đối. Tại sao?

- Vì đời sống tâm linh chỉ sinh hoạt bằng sự sinh động của năng lực nguyên thủy của vũ trụ. Hay là, chỉ riêng đời sống tâm linh mới tạo nên chơn ngã (đạo ngã hay là vũ trụ ngã).


(1) “Sự Sáng” là một thể, cũng có thể gọi là “thể sáng”. Nó chưa có trong từ khoa học, vì con người chưa khám phá ra, và ứng dụng nó vào lĩnh vực khoa học.

Nó là “sự sống”, nó sinh hóa ra mọi sức sống có trong vũ trụ, từ to lớn như các hành tinh, cực nhỏ như những đơn vị điện tử v.v… Bản chất của nó: là thể sáng; bản tính là Sự Sáng; tính năng là huyền năng, hay là năng lực nguyên thủy của vũ trụ.

(2) Trong cách đặt và tìm một công án (đề tài có thực hay trừu tượng, vô hình) hành giả dùng chức năng thứ ba của Trí, là “Trí suy nghĩ” để suy nghĩ mà tìm ra cái Lý vô hình trong đề tài.

Đây là phương pháp có tính vật lý. Nó làm cho Sự Sáng sinh động đến mức tối đa, đủ để cho Sự Sáng của Trí bức xạ, dù rằng Trí chưa thấu triệt cái Lý đang tìm.

(Tác giả đưa ra một số danh từ, thật sự không liên quan trực tiếp đến đề tài: nhưng để độc giả, thoáng qua có một khái niệm, một ý niệm về những danh từ đó, để phần sau ta dễ vào phần chuyên đề).

Đã sao chép liên kết!