KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- Sự mầu nhiệm
- Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu: chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- a. Người bình thường
- b. Người Trí
- c. Người tiến hóa
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- a. Khí kém do hao tán
- b. Khí vượng
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- a. Khí hao
- b. Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sự minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
NĂNG LỰC
Cái gì, điều gì mà con người cảm nhận được bằng bất cứ một phương tiện, giác quan hay những bộ phận vô hình nào, chúng cũng chứa đựng cái “Lý” trong đó.
Cái “Lý” là nguồn gốc của nguyên nhân – Tại sao lại phí thời giờ đi tìm nhân duyên?
Bám mãi vào nhân duyên mà suy nghĩ, bàn luận, cớ gì không tìm nguồn gốc sinh hóa của nhân duyên, là nguyên nhân – Nếu đã hiểu nguyên nhân rồi, chẳng còn gì phải suy nghĩ nhiều nữa.
Nguyên nhân là gì?
- Nguyên nhân là sự sinh động vô hình, đến khi sự sinh động đó chuyển động mới có nhân duyên. Hay ngược lại:
Sự sinh động nguyên thủy là nguyên nhân. Từ sự chuyển động; mới có nhân duyên, có sinh hóa.
Tương tự như Trí là sự sinh động nguyên thủy, từ đó tư tưởng được sinh hóa, kết hợp với ngoại cảnh, tâm trạng mà sinh ra sự, việc. Và từ sự, việc đó, lại sinh hóa ra vô tận những sự việc khác
Cái cốt yếu của nhân duyên là sinh hóa. Sự sinh hóa do ít, nhiều nhân tố hợp lại, mang tính cách đa nguyên (nhiều nguồn gốc sinh hóa). Hay là, nhiều “nhân duyên sinh hóa”, từ một nguyên nhân nguyên thủy.
Các nhân tố hợp lại trong sự sinh hóa, sinh tạo ra nhiều sức sống khác nhau (dài hay ngắn tùy theo sức sống của thể linh thiêng kết hợp lại với nhau), do đó mới có bản thể, bản tướng, bản thái… của những sinh tạo mới – Và do “sức sống duy trì được khác nhau”, cho nên mới có biến thể, biến tướng, biến thái.
(Các nhà khoa học quân sự trong sự thắng, bại trên bình diện quân sự thuần túy, chỉ biết dùng một năng lực mạnh để chế ngự một năng lực khác. Trái lại, đạo nhân, chân sư lại dùng “năng lực tự tạo lấy năng lực” trong con người để kéo dài sức sống cho một lực khác. Hay là biết dùng Sự Sáng để tăng thêm và kéo dài sức sống cho các thể linh thiêng là Điện, Khí, Thủy).
Căn cứ trên sức sống sinh hóa từ nhân duyên, mọi sinh tạo đều biển lộ ra sự tương đối.
Sinh hóa vô tận, nhân duyên vô số, sinh tạo vô tận…, thì sự tương đối cũng theo đó, trở nên vô tận.
Nhân duyên mang tính cách tương đối, tìm cái vô tận trong sự tương đối, thì đến bao giờ ta mới tìm được sự tuyệt đối, và duy trì mãi sự tuyệt đối đó ở trong ta.
Sự tuyệt đối đó không có trong nhân duyên, trong mọi sinh tạo, vậy sự tuyệt đối ở đâu?
- Trong “nguyên nhân nguyên thủy” sinh hóa ra những nguyên nhân phụ, và dây chuyền khác, mới có sự tuyệt đối. Hay là:
Sự tuyệt đối chỉ có trong nguyên nhân nguyên thủy, còn trong sự sinh hóa chỉ có tương đối.
Cũng vậy “hiện tượng thì vô tận, mà nguyên nhân chỉ có một”.
Như vậy, phải hướng về đâu để tìm ra sự tuyệt đối, sự tương đối, năng lực, sự sống, sự hằng sống v.v…?
- Con người hướng nhìn về đâu thì Tâm, Trí cũng hướng về đó.
Tâm Trí ở đâu, thì ý nghĩ cũng ở đó. Ý nghĩ lôi cuốn mọi sinh hoạt theo về hướng đó. Cuộc sống con người hoàn toàn đổi thay.
Cái nhìn hướng về vũ trụ, cuộc sống hướng về Thiên Lý, Thiên Cơ, Thiên Năng.
Cái nhìn hướng về tha nhân với tình thương thì sinh hoạt mang tính cách phục vụ.
Hướng về sự thụ hưởng của nhục thân, mọi sinh hoạt chỉ hướng về mình.
Cái nhìn hướng ra ngoài, mọi sinh hoạt hướng ra sự tự nhiên, thiên nhiên.
Nhưng sự siêu nhiên và siêu siêu nhiên mà con người cảm nhận, cảm nghiệm được đều ở trong. Muốn tìm, con người phải hoàn toàn hướng vào trong – một tiểu vũ trụ có tất cả những gì con người cần tìm như năng lực, nguyên nhân, nguyên lý (trong đó gồm có cả sự Thuận Lý, Chơn Lý, Đạo Lý, Phước, Đức, Đạo, sự sống, sự hằng sống v.v…).
Cho nên, đi tìm tất cả những gì mà con người chưa tìm ra, hoặc không thể khám phá ra từ bên ngoài, thì phải quay nhãn quan vào trong, và quan trọng nhất, đó là sự định hướng.
Định cho đúng hướng, là một sự rất khó, còn nhắm vào cho đúng đích, lại còn khó hơn, như cầm cung nhắm bắn vào lổ nhỏ chỉ vừa mũi tên xuyên qua.
Nhắm đúng hướng của mũi tên xuyên qua được lổ nhỏ, con người tốn bao nhiêu thời giờ, kiên nhẫn, sáng suốt để có được sự chính xác như vậy.
Nhận xét trên thực tế về hai cách, nhìn bên ngoài và bên trong giữa các nhà khoa học và đạo nhân.
Các khoa học gia tìm ra cái Lý trong những tạo vật và những hiện tượng hữu hình, nhưng các đạo nhân thì kiếm cái Lý trong tạo vật, trong những hiện tượng siêu hình và vô hình. Nhờ đó, họ khám phá ra sự mầu nhiệm trong cái Lý, và sự sáng tạo của Thiên Tuệ trong đó.
Vì vậy, có sự khác biệt giữa hai sự khám phá ra cái Lý.
Đối với khoa học, con người tìm ra được sự kỳ diệu, với đạo nhân, là sự mầu nhiệm.
Kỳ diệu đem lại sự thích thú tinh thần, mầu nhiệm khởi nguồn cho sự hoan lạc tâm linh, cho nên sinh hoạt của họ luôn gắn liền vào đó, để rồi thụ hưởng trong sự tiến hóa.
Không phải tất cả mọi người đều nhận ra điều này, huống gì là để Tâm, Trí vào việc tìm kiếm nguồn gốc sinh hóa ra mình.
Nhưng đáng thương hơn nữa, là tự cho mình là một sinh tạo tự hữu (tự có)
Cứ cho mình là tự hữu, thì con người đã biết sử dụng sự kỳ diệu, linh thiêng và mầu nhiệm ngay từ lúc mới được sinh ra, và chẳng bao giờ biết được mình từ đâu, và do đâu mà có.
Ngược lại, khi con người biết mình là không tự hữu (không tự có), thì sẽ biết mình là một thụ tạo sinh động bằng nhiều loại năng lực, có sự sống và nhiều loại sức sống.
Hay nói một cách khác, là “sự sống và sức sống” đều là năng lực, tức là “con người sống bằng năng lực”.
Không riêng về con người sống bằng năng lực mà tất cả sinh vật, động vật, thực vật… có sự biến thể, biến tướng, biến thái cũng hàm chứa và sinh động bằng năng lực
Vậy năng lực là gì?
- Là sự sinh động của một thể, hay của bất cứ một thể nào dưới dạng hữu hình hay siêu hình hay siêu siêu hình. Quan trọng nhất trong mọi năng lực, đó là năng lực nguyên thủy có tính hằng hữu (hằng có). Nó thuộc về tánh, và cũng là một trong những thành tố của vũ trụ.
Tại sao những gì thuộc về tánh của vũ trụ, hay là những gì thuộc về thành tố của vũ trụ đều là hằng hữu (hằng có)?
- Hằng hữu (hằng có) không phải là “cái Có” đơn giản như cái Có của người đời, về của cải, tài sản…, Có rồi lại mất, hay là mất rồi lại Có.
Nhưng trong sự “hằng hữu vô hình” này có sự “hằng sống động”, và trong đó có một “năng lực tự tạo”. Chính nó tự tạo lấy năng lực cho nó, và tự làm tăng trưởng năng lực của nó.
Nhờ đó, mà những thành tố của vũ trụ tăng thêm năng lực.
Như vậy:
Trong “sự hằng hữu”, phải có sự hằng sinh động. Trong sự hằng sinh động, có một “năng lực tự tạo”. “Năng lực tự tạo”, tự tạo lấy năng lực cho nó. “Tự tạo năng lực”, là làm cho năng lực đó tăng trưởng.
Nhờ vào đâu mà sự sáng tạo của vũ trụ vẫn tiếp tục mãi mãi?
- Sự sáng tạo của vũ trụ không phải xảy ra một lần rồi chấm dứt. Nó vẫn tiếp tục mãi mãi nhờ vào sự hằng hữu của các thành tố của vũ trụ trong chức năng sáng tạo.
Từ sự hằng hữu của các thành tố của vũ trụ, con người mới nhận ra sự tuyệt đối từ nguyên thủy.
Trong sự tuyệt đối không có tính cách đối đãi, so sánh.
Những gì vũ trụ chứa đựng đều mang tính cách tương đối, nhưng nó thì tuyệt đối. Nguồn gốc sinh hóa cũng tuyệt đối, vì vậy mà “thể nguyên thủy” của nó là Sự Sáng (1) (sự sống) cũng tuyệt đối.
Tiểu vũ trụ cũng vậy, Sự Sáng (sự sống) cũng tuyệt đối, bởi vì nó là “thể nguyên thủy”, nó sinh hóa ra những thể khác mang tính tương đối.
Nhờ vào phần tuyệt đối này, mà con người lớn hơn địa cầu, chế ngự, khắc phục và điều khiển được mọi tạo vật khác. Thân người tuy rất nhỏ so với diện tích địa cầu, nhưng nhờ vào Sự Sáng của Trí. Tầm quang tỏa của Sự Sáng của Trí bao trùm cả địa cầu, châu biến đến những hành tinh cực xa qua thị giác, chưa nói đến tầm nhìn của Tuệ nhãn bao trùm toàn diện (mọi phương, mọi phía) với sự thấy 3600 (mà danh từ của đạo pháp gọi là toàn kiến. Toàn kiến mới toàn tri được).
(Hiện tượng này tương tự như máy phát sóng của điện thoại di động, máy tuy nhỏ, nhưng cường độ của điện mạnh, thì vùng phủ sóng càng rộng).
Tóm lại: “Những gì xuất nguồn từ sự tuyệt đối đều mang tính tuyệt đối, như cái "Lý" vô hình và mầu nhiệm là nguồn gốc sáng tạo, sinh hóa (2)… thì mọi sáng tạo, sinh hóa từ cái Lý cũng mang cái tính tuyệt đối vậy.
Liên quan đến năng lực nguyên thủy, đến Sự Sáng, sự sống, trong ba đời sống (vật chất, tinh thần, và tâm linh), chỉ có đời sống tâm linh mới đưa sinh hoạt con người vào sự tuyệt đối. Tại sao?
- Vì đời sống tâm linh chỉ sinh hoạt bằng sự sinh động của năng lực nguyên thủy của vũ trụ. Hay là, chỉ riêng đời sống tâm linh mới tạo nên chơn ngã (đạo ngã hay là vũ trụ ngã).
(1) “Sự Sáng” là một thể, cũng có thể gọi là “thể sáng”. Nó chưa có trong từ khoa học, vì con người chưa khám phá ra, và ứng dụng nó vào lĩnh vực khoa học.
Nó là “sự sống”, nó sinh hóa ra mọi sức sống có trong vũ trụ, từ to lớn như các hành tinh, cực nhỏ như những đơn vị điện tử v.v… Bản chất của nó: là thể sáng; bản tính là Sự Sáng; tính năng là huyền năng, hay là năng lực nguyên thủy của vũ trụ.
(2) Trong cách đặt và tìm một công án (đề tài có thực hay trừu tượng, vô hình) hành giả dùng chức năng thứ ba của Trí, là “Trí suy nghĩ” để suy nghĩ mà tìm ra cái Lý vô hình trong đề tài.
Đây là phương pháp có tính vật lý. Nó làm cho Sự Sáng sinh động đến mức tối đa, đủ để cho Sự Sáng của Trí bức xạ, dù rằng Trí chưa thấu triệt cái Lý đang tìm.
(Tác giả đưa ra một số danh từ, thật sự không liên quan trực tiếp đến đề tài: nhưng để độc giả, thoáng qua có một khái niệm, một ý niệm về những danh từ đó, để phần sau ta dễ vào phần chuyên đề).