KHOA HỌC TÂM LINH

Khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

NGỒI LÂU TRONG NƯỚC

Trên mặt đất có sự sống, dưới nước cũng có sinh vật bao gồm cả động vật và thực vật mà dưỡng khí (oxy) là yếu tố quan trọng để chúng sinh tồn.

Động vật có nhiều loại, nhưng hầu hết chúng có những bộ phận để lọc lấy dưỡng khí như cá có mang. Đặc biệt là loại tảo, thủy tảo là những loại vô tri, vô giác, vậy mà chúng cũng có thể thu oxy để duy trì sức sống.

Con người không có khả năng sống mãi trong nước, nhưng với cấu trúc vô cùng huyền bí, phức tạp, thu hút bốn loại năng lực là sự sáng, điện, khí, thủy. Và hơn nữa, có thể điều khiển hai chức năng sinh hóa và chuyển hóa để có thể sinh hoạt và hoạt động ở nhiều môi trường khác nhau, nơi có khí loãng, hay ngồi lâu trong nước.

Liên quan đến Khí, Thủy là hai tạng Phổi và Tim.

Hai cơ quan này liên đới với nhau, nếu một trong hai mà ngưng hoạt động, thì cơ quan kia cũng theo đó mà ngưng luôn. Như Tim ngừng đập, Phổi sẽ ngưng hít thở, trái lại nếu Phổi ngưng hít thở, thì Tim sẽ ngừng đập.

Khi Tim ngừng đập, máu ngưng lưu thông theo dịch kỳ của nó, nhưng mỗi đơn vị máu sẽ đứng một chổ tự động chuyển động để sống. Do đó, nhiệt độ của nhục thân bên trong da vẫn giữ nguyên 370. Máu không lưu thông, các giác quan mất chức năng của nó, khả năng các chức năng không còn, thì Sự Sáng (của Trí tỏa ra các chức năng để biết) tụ về não.

Chức năng Biết từ vỏ não không còn, thì chức năng Hiểu của Trí cũng không hoạt động. Trí không hoạt động nữa, nó chuyển sang siêu Trí. Và siêu Trí lôi cuốn theo sự hoạt động mới, liên quan đến các trực giác quan và những bộ phận chỉ cần đến hai loại năng lượng là Điện và Sự Sáng.

Tim ngưng đập (1), vỏ não ngưng hoạt động, nhục thân mất cảm giác. Sức sống bên ngoài ngưng hoạt động, nhưng sự sống sự sáng vẫn còn. Lúc đó nhục thân giống như thân của tảo, thủy tảo, vô cảm giác, oxy trong nước được rút vào nhục thân qua các lỗ chân lông, vì bên trong sự sống còn được duy trì, tự nó quân bình năng lượng.

Trạng thái vô cảm giác của nhục thân rút năng lượng là oxy từ bên ngoài vào một cách tự động. Nhưng, con người có thể chủ động theo luật sinh hóa, là tạo năng lượng từ một thể cực nhẹ nhưng lại cực mạnh để duy trì những sức sống khác (là oxy) để ngồi lâu được trong nước, tức là dùng đến chơn tức (2).

Tảo, thủy tảo thu oxy vào thân chúng, vì chúng vô tri, vô giác. Chơn tức, ngược lại tạo ra oxy từ trong thân.

Phương pháp trái với luật tự nhiên chứng minh con người làm chủ được tiểu vũ trụ, điều khiển được luật sinh hóa và chuyển hóa ngay trong bản thân, khởi đầu bằng cách điều khiển được hệ thống thần kinh thực vật (hay là hệ đối giao cảm), thông thường con người không thể làm được. Vì sao?

- Vì hệ thần kinh này liên tục hoạt động một cách tự động ngay cả lúc ngủ, tim vẫn đập, phổi vẫn thở.

Nhưng với sự điều khiển của chơn ý, tim ngưng đập, phổi ngưng thở.

Sự khác thường của sinh hoạt của một hệ thống lôi cuốn theo sự biến đổi, phát sinh ra những hiện tượng về vật lý và sinh lý ngay trong tiểu vũ trụ.

Về vật lý, hiện tượng này liên quan đến năng lượng, đến nội lực, và thực lực của nội lực ngay trong chức năng sinh hóa.

Về sinh lý, chúng liên quan đến sức khỏe của cơ thể nói chung, nhưng riêng rẽ, chúng liên quan đến mỗi loại tế bào của từng thể linh thiêng là Huyết, Khí, Điện.

Liên quan đến năng lượng, khi hành giả không còn tính chủ quan tâm lý nữa, hay bản ngã mất đi, lúc đó chỉ còn thuần Trí sinh động với Sự Sáng. Sự Sáng tăng dần lên do sự tụ về não, hay nói cách khác, Sự Sáng tiềm ẩn trong 3 thể Huyết, Khí, Điện, được chơn ý điều về não bộ. Sự Sáng (thể sáng) trong não bộ tăng lên cho đến khi cường thế của nó bằng với Sự Sáng của vũ trụ về cường thế, thì hai chức năng sinh hóa và chuyển hóa xảy ra đồng bộ như đại vũ trụ. Lúc đó, cơ thể con người, do hai chức năng sinh hóa và chuyển hóa đồng bộ, nên thực lực, nội lực và ngoại lực đều được đầy đủ, và không cần đến sự thu nạp của khí (của không khí) và thức ăn, thức uống nữa.

Luyện tập đến mức không cần đến hít thở, ăn uống nữa, mà vẫn sống được, con người cho đó là một kỳ công với công phu tuyệt hảo. Thật ra, đó là sự mầu nhiệm xảy ra từ những thể linh thiêng trong chức năng “sinh hóa và chuyển hóa đồng bộ” trong nhục thân với một cấu trúc huyền bí gồm nhiều bộ phận vô hình.

Kỳ công và công phu con người không bị giới hạn ở cái một, hay là chỉ có một kỳ công duy nhất. Sinh hoạt và nhu cầu của con người càng nhiều, thì kỳ công của con người cũng không ít.

Kỳ công do con người tạo ra, nhưng mầu nhiệm để tạo ra kỳ công đã có sẵn trong vũ trụ và cả trong tiểu vũ trụ (3). Nó không có yếu tố thời gian, hay là mầu nhiệm thì hằng có, nhưng những thành tựu phi thường xảy ra ở nhiều thời điểm khác nhau.

Nếu, những thành tựu lạ lùng được coi như sự mầu nhiệm, thì mức độ mầu nhiệm ít hoặc nhiều gắn liền với cách thức thể hiện kỳ công đó.

Ngày nay tâm hồn con người hướng nhiều về Danh, Lợi để tạo bản ngã trên đó. Vì vậy, “sự Thật, Giả” trong việc làm, lời nói… khó nhận ra, và rất khó lường trước.

Nếu, những thành tựu phi thường không đúng thật là một công phu, kỳ công, xuất nguồn từ sự mầu nhiệm trong con người, thì tất cả những điều được hiện thực là những pháp thuật với bùa chú, với những chất thuốc kích thích (dope), đơn luyện để giữ lâu nội lực. Hoặc ở một mức thấp hơn, đó là ảo thuật hay xảo thuật được nghĩ ra với những dụng cụ tinh tế vượt qua sự kiểm soát của Trí bình thường. Người xem hướng mắt nhìn vào sự lạ xảy ra, tán thưởng, tâm hồn bị mê hoặc, Trí chẳng còn thời gian để suy nghĩ ra sự hư thực trong đó.

Ngồi lâu trong nước là điều kỳ lạ, nhưng trong môi trường này vẫn có oxy sinh động. Hành giả dùng chơn ý điều khiển làm mất cảm giác. Nhờ đó, oxy trong nước tự động rút vào nhục thân qua các lỗ chân lông, trong khi đó, chỉ còn năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) sinh động trong nhục thân.

Các năng lực đang trong chức năng chuyển hóa năng lượng.

Trong một môi trường khác, không có không khí chuyển động, hoặc có, nhưng rất ít như một người trong hòm kiếng được đem chôn dưới đất mà vẫn sống được (4) thì hiện tượng vật lý và sinh lý sẽ xảy ra như thế nào, người biểu diễn sẽ dùng những chức năng nào của vũ trụ để thực hiện việc làm này.


(1) Phương pháp luyện này tuy chậm, nhưng an toàn. Luyện nhịp tim chậm lại và ngưng đập, chủ yếu dùng “Trí quan sát” điều khiển nhịp tim chậm lại và càng chậm dần theo hơi thở ra. Hơi thở ra từ ngắn và mạnh đến dài và nhẹ, rồi đến ngưng thở, để khí thông qua lỗ chân lông.

Ứng dụng: - Rút thanh khí vào các tế bào.

- Ép đẩy trược khí, độc khí ra bên ngoài da.

- Mau hết say rượu.

(2) Là cách thở của chơn nhân. Đúng ra, đó là sự chuyển hóa của năng lực từ “Tinh hóa Khí”, “Khí hóa Thần” và “Thần hoàn Hư” là năng lực nhập vào năng lực nguyên thủy của vũ trụ.

Do trạng thái chơn không của Tâm và Trí. “Thần lực” là lực vô hình của máu đỏ tụ về phần dưới ngay giữa não tuyến nội tiết (hypothalamus). Nhịp tim đập nhẹ ở nơi này, thay vì đập ở tim. Thần lực nhẹ dần để “hoàn Hư”. Lúc đó, oxy từ sự sống (Sự Sáng) sinh hóa ra, nên không cần sự hít, thở bình thường của Phổi, nhục thân rất khỏe vì đó là thanh khí (khí sinh hóa từ Sự Sáng vô nhiễm).

(3) Mầu nhiệm xảy ra khi con người trở thành một tiểu vũ trụ với chơn ý, siêu ý, và siêu siêu ý. Nó không xảy ra ở nhục thân, Tâm và Trí, khi con người còn bản ngã và cá nhân sinh động.

(4) Nhiều người đã từng chứng kiến hiện tượng về người chết được đem chôn và sau đó sống lại.

Chết là nhục thân chết, tim không đập, phổi không thở, nhưng nội lực và thực lực vẫn còn sống, tức là não vẫn còn sống, điện và Sự Sáng vẫn sinh động. Năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) cung cấp năng lực cho năng lực hậu thiên. Nhục thân chết sẽ sống lại.

Đã sao chép liên kết!