KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- Sự mầu nhiệm
- Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu: chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- a. Người bình thường
- b. Người Trí
- c. Người tiến hóa
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- a. Khí kém do hao tán
- b. Khí vượng
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- a. Khí hao
- b. Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sự minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
NGỒI LÂU TRONG NƯỚC
Trên mặt đất có sự sống, dưới nước cũng có sinh vật bao gồm cả động vật và thực vật mà dưỡng khí (oxy) là yếu tố quan trọng để chúng sinh tồn.
Động vật có nhiều loại, nhưng hầu hết chúng có những bộ phận để lọc lấy dưỡng khí như cá có mang. Đặc biệt là loại tảo, thủy tảo là những loại vô tri, vô giác, vậy mà chúng cũng có thể thu oxy để duy trì sức sống.
Con người không có khả năng sống mãi trong nước, nhưng với cấu trúc vô cùng huyền bí, phức tạp, thu hút bốn loại năng lực là sự sáng, điện, khí, thủy. Và hơn nữa, có thể điều khiển hai chức năng sinh hóa và chuyển hóa để có thể sinh hoạt và hoạt động ở nhiều môi trường khác nhau, nơi có khí loãng, hay ngồi lâu trong nước.
Liên quan đến Khí, Thủy là hai tạng Phổi và Tim.
Hai cơ quan này liên đới với nhau, nếu một trong hai mà ngưng hoạt động, thì cơ quan kia cũng theo đó mà ngưng luôn. Như Tim ngừng đập, Phổi sẽ ngưng hít thở, trái lại nếu Phổi ngưng hít thở, thì Tim sẽ ngừng đập.
Khi Tim ngừng đập, máu ngưng lưu thông theo dịch kỳ của nó, nhưng mỗi đơn vị máu sẽ đứng một chổ tự động chuyển động để sống. Do đó, nhiệt độ của nhục thân bên trong da vẫn giữ nguyên 370. Máu không lưu thông, các giác quan mất chức năng của nó, khả năng các chức năng không còn, thì Sự Sáng (của Trí tỏa ra các chức năng để biết) tụ về não.
Chức năng Biết từ vỏ não không còn, thì chức năng Hiểu của Trí cũng không hoạt động. Trí không hoạt động nữa, nó chuyển sang siêu Trí. Và siêu Trí lôi cuốn theo sự hoạt động mới, liên quan đến các trực giác quan và những bộ phận chỉ cần đến hai loại năng lượng là Điện và Sự Sáng.
Tim ngưng đập (1), vỏ não ngưng hoạt động, nhục thân mất cảm giác. Sức sống bên ngoài ngưng hoạt động, nhưng sự sống sự sáng vẫn còn. Lúc đó nhục thân giống như thân của tảo, thủy tảo, vô cảm giác, oxy trong nước được rút vào nhục thân qua các lỗ chân lông, vì bên trong sự sống còn được duy trì, tự nó quân bình năng lượng.
Trạng thái vô cảm giác của nhục thân rút năng lượng là oxy từ bên ngoài vào một cách tự động. Nhưng, con người có thể chủ động theo luật sinh hóa, là tạo năng lượng từ một thể cực nhẹ nhưng lại cực mạnh để duy trì những sức sống khác (là oxy) để ngồi lâu được trong nước, tức là dùng đến chơn tức (2).
Tảo, thủy tảo thu oxy vào thân chúng, vì chúng vô tri, vô giác. Chơn tức, ngược lại tạo ra oxy từ trong thân.
Phương pháp trái với luật tự nhiên chứng minh con người làm chủ được tiểu vũ trụ, điều khiển được luật sinh hóa và chuyển hóa ngay trong bản thân, khởi đầu bằng cách điều khiển được hệ thống thần kinh thực vật (hay là hệ đối giao cảm), thông thường con người không thể làm được. Vì sao?
- Vì hệ thần kinh này liên tục hoạt động một cách tự động ngay cả lúc ngủ, tim vẫn đập, phổi vẫn thở.
Nhưng với sự điều khiển của chơn ý, tim ngưng đập, phổi ngưng thở.
Sự khác thường của sinh hoạt của một hệ thống lôi cuốn theo sự biến đổi, phát sinh ra những hiện tượng về vật lý và sinh lý ngay trong tiểu vũ trụ.
Về vật lý, hiện tượng này liên quan đến năng lượng, đến nội lực, và thực lực của nội lực ngay trong chức năng sinh hóa.
Về sinh lý, chúng liên quan đến sức khỏe của cơ thể nói chung, nhưng riêng rẽ, chúng liên quan đến mỗi loại tế bào của từng thể linh thiêng là Huyết, Khí, Điện.
Liên quan đến năng lượng, khi hành giả không còn tính chủ quan tâm lý nữa, hay bản ngã mất đi, lúc đó chỉ còn thuần Trí sinh động với Sự Sáng. Sự Sáng tăng dần lên do sự tụ về não, hay nói cách khác, Sự Sáng tiềm ẩn trong 3 thể Huyết, Khí, Điện, được chơn ý điều về não bộ. Sự Sáng (thể sáng) trong não bộ tăng lên cho đến khi cường thế của nó bằng với Sự Sáng của vũ trụ về cường thế, thì hai chức năng sinh hóa và chuyển hóa xảy ra đồng bộ như đại vũ trụ. Lúc đó, cơ thể con người, do hai chức năng sinh hóa và chuyển hóa đồng bộ, nên thực lực, nội lực và ngoại lực đều được đầy đủ, và không cần đến sự thu nạp của khí (của không khí) và thức ăn, thức uống nữa.
Luyện tập đến mức không cần đến hít thở, ăn uống nữa, mà vẫn sống được, con người cho đó là một kỳ công với công phu tuyệt hảo. Thật ra, đó là sự mầu nhiệm xảy ra từ những thể linh thiêng trong chức năng “sinh hóa và chuyển hóa đồng bộ” trong nhục thân với một cấu trúc huyền bí gồm nhiều bộ phận vô hình.
Kỳ công và công phu con người không bị giới hạn ở cái một, hay là chỉ có một kỳ công duy nhất. Sinh hoạt và nhu cầu của con người càng nhiều, thì kỳ công của con người cũng không ít.
Kỳ công do con người tạo ra, nhưng mầu nhiệm để tạo ra kỳ công đã có sẵn trong vũ trụ và cả trong tiểu vũ trụ (3). Nó không có yếu tố thời gian, hay là mầu nhiệm thì hằng có, nhưng những thành tựu phi thường xảy ra ở nhiều thời điểm khác nhau.
Nếu, những thành tựu lạ lùng được coi như sự mầu nhiệm, thì mức độ mầu nhiệm ít hoặc nhiều gắn liền với cách thức thể hiện kỳ công đó.
Ngày nay tâm hồn con người hướng nhiều về Danh, Lợi để tạo bản ngã trên đó. Vì vậy, “sự Thật, Giả” trong việc làm, lời nói… khó nhận ra, và rất khó lường trước.
Nếu, những thành tựu phi thường không đúng thật là một công phu, kỳ công, xuất nguồn từ sự mầu nhiệm trong con người, thì tất cả những điều được hiện thực là những pháp thuật với bùa chú, với những chất thuốc kích thích (dope), đơn luyện để giữ lâu nội lực. Hoặc ở một mức thấp hơn, đó là ảo thuật hay xảo thuật được nghĩ ra với những dụng cụ tinh tế vượt qua sự kiểm soát của Trí bình thường. Người xem hướng mắt nhìn vào sự lạ xảy ra, tán thưởng, tâm hồn bị mê hoặc, Trí chẳng còn thời gian để suy nghĩ ra sự hư thực trong đó.
Ngồi lâu trong nước là điều kỳ lạ, nhưng trong môi trường này vẫn có oxy sinh động. Hành giả dùng chơn ý điều khiển làm mất cảm giác. Nhờ đó, oxy trong nước tự động rút vào nhục thân qua các lỗ chân lông, trong khi đó, chỉ còn năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) sinh động trong nhục thân.
Các năng lực đang trong chức năng chuyển hóa năng lượng.
Trong một môi trường khác, không có không khí chuyển động, hoặc có, nhưng rất ít như một người trong hòm kiếng được đem chôn dưới đất mà vẫn sống được (4) thì hiện tượng vật lý và sinh lý sẽ xảy ra như thế nào, người biểu diễn sẽ dùng những chức năng nào của vũ trụ để thực hiện việc làm này.
(1) Phương pháp luyện này tuy chậm, nhưng an toàn. Luyện nhịp tim chậm lại và ngưng đập, chủ yếu dùng “Trí quan sát” điều khiển nhịp tim chậm lại và càng chậm dần theo hơi thở ra. Hơi thở ra từ ngắn và mạnh đến dài và nhẹ, rồi đến ngưng thở, để khí thông qua lỗ chân lông.
Ứng dụng: - Rút thanh khí vào các tế bào.
- Ép đẩy trược khí, độc khí ra bên ngoài da.
- Mau hết say rượu.
(2) Là cách thở của chơn nhân. Đúng ra, đó là sự chuyển hóa của năng lực từ “Tinh hóa Khí”, “Khí hóa Thần” và “Thần hoàn Hư” là năng lực nhập vào năng lực nguyên thủy của vũ trụ.
Do trạng thái chơn không của Tâm và Trí. “Thần lực” là lực vô hình của máu đỏ tụ về phần dưới ngay giữa não tuyến nội tiết (hypothalamus). Nhịp tim đập nhẹ ở nơi này, thay vì đập ở tim. Thần lực nhẹ dần để “hoàn Hư”. Lúc đó, oxy từ sự sống (Sự Sáng) sinh hóa ra, nên không cần sự hít, thở bình thường của Phổi, nhục thân rất khỏe vì đó là thanh khí (khí sinh hóa từ Sự Sáng vô nhiễm).
(3) Mầu nhiệm xảy ra khi con người trở thành một tiểu vũ trụ với chơn ý, siêu ý, và siêu siêu ý. Nó không xảy ra ở nhục thân, Tâm và Trí, khi con người còn bản ngã và cá nhân sinh động.
(4) Nhiều người đã từng chứng kiến hiện tượng về người chết được đem chôn và sau đó sống lại.
Chết là nhục thân chết, tim không đập, phổi không thở, nhưng nội lực và thực lực vẫn còn sống, tức là não vẫn còn sống, điện và Sự Sáng vẫn sinh động. Năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) cung cấp năng lực cho năng lực hậu thiên. Nhục thân chết sẽ sống lại.