KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- Sự mầu nhiệm
- Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu: chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- a. Người bình thường
- b. Người Trí
- c. Người tiến hóa
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- a. Khí kém do hao tán
- b. Khí vượng
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- a. Khí hao
- b. Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sự minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
NGƯỜI SỐNG CHÔN TRONG LỒNG KIẾNG
Nhục thân không ăn, uống, thở, nó không thể sống được, trong lồng kiếng không thực phẩm, nước, và không có không khí, con người làm sao sống được trong một thời gian dài. Vậy mà có người, và có loài sinh vật vẫn có thể sống được.
Trước tiên, ta nói đến các con vật có khả năng duy trì sức sống của nhục thân trong thời gian dài, không cần đến tiêu thụ thực phẩm hằng ngày là rùa và gấu trắng, một số khác cũng có cách sống tương tự.
Gấu trắng trốn rét qua đông bằng cách ngủ thiếp trong thời gian đó. Cơ thể của chúng được giữ, trữ, đầy đủ chất béo, nhịp tim đập nhẹ đến không đập. Tứ chi và thân thể không hoạt động, nội lực vẫn giữ nguyên không chuyển thành ngoại lực để làm tiêu hao năng lượng.
Yếu tố quan trọng để cho có thể duy trì sức sống ở mức bình thường, không bị tiêu hao nhanh năng lượng, nhờ tim ngưng đập, phổi ngưng thở, khi nó trốn rét qua đông.
Trạng thái nửa sống, nửa chết của nhục thân làm cho các tế bào trẻ lâu, vì không hoạt động, nên hệ thống tiêu hóa và hô hấp không tạo ra nhiều thán khí (CO2) trong cơ thể của gấu trắng.
Rùa: trong số các loại sinh vật sống trên địa cầu như thượng cầm, hạ thú, kình ngư… thì rùa là loại sống lâu, có con tuổi thọ đến vài trăm năm.
Những gì không bình thường, tất phải có những gì khác thường. Đây là tiền đề để Trí khôn con người suy nghĩ để biết, hiểu và để tiến hóa.
Rùa chuyển động chậm chạp do sức nặng của mai rùa đè xuống bốn chân của nó. Đây không phải là yếu tố để nó sống lâu. Yếu tố trường sinh của nó là: gan và cách thở.
Gan rùa to, so với gan của các sinh vật khác theo tỷ lệ của thể tích, luôn luôn chứa nhiều chất bổ để có thể tự nuôi lấy sức sống trong một thời gian dài, khi nó không được ăn, uống.
Quan trọng nhất để kéo dài mức sống lâu, là cách thở của rùa (ta gọi là "quy tức", áp dụng trong thuật trường sinh) (1).
Rùa thở cực nhẹ, nhịp tim rất chậm và nhẹ. Oxy được giữ lại nhiều và lâu, nên nó sống dưới nước được lâu. Nếu rùa bị cột, treo vào gốc cây, nó chỉ cần vài giọt sương, với cấu trúc của gan to, và cách thở của nó, rùa có thể sống được vài chục ngày.
Với những cấu trúc của bộ phận, cơ quan rất đặc biệt của loài thú, có người cảm thấy cơ thể con người thua kém loài thú ở những khả năng của chúng. Nhưng, thật ra con người làm chủ muôn loài trên địa cầu, nhờ vào một cấu trúc rất kỳ diệu, có luôn cả sự linh thiêng và mầu nhiệm sinh động như đại vũ trụ, trong đó có 2 loại năng lực tiên thiên và hậu thiên.
Loài thú chỉ có năng lực hậu thiên sinh động là chủ yếu. Nếu chúng có năng lực tiên thiên, con người không thể điều khiển hay chế ngự chúng được.
Loài thú không thể thành Thần, Tiên, Phật, Thánh… được. Những ngôi vị này không có trước khi loài người có trên địa cầu, chúng có sau, khi con người tiến hóa và biết dùng đến năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) trong sinh hoạt đời sống.
Có thể nói ngôi vị trên được tạo nên từ những thành tựu phi thường trong việc ứng dụng năng lực tiên thiên, mà tất cả các loài thú không có một loài nào có thể có được, nhất là Sự Sáng (2).
Người ứng dụng được năng lực tiên thiên trong cơ thể, thấu triệt được luật sinh hóa và chuyển hóa ngay trong bản thân. Và từ đó, có thể tạo nên những thực hiện phi thường, và người thường coi những điều đó như một phép lạ.
Như vậy, người nằm trong lồng kiến sử dụng năng lượng trong luật sinh hóa và chuyển hóa như thế nào để duy trì sức sống trong khoảng thời gian dài?
- Sử dụng năng lượng để duy trì sức sống của nhục thân là phương pháp sử dụng vật lý để điều hòa những điều kiện, hay nhu cầu của sinh lý. Nó liên quan đến luật sinh hóa trong sự cung cấp năng lượng, và luật chuyển hóa, trước khi hành giả bắt đầu thực hiện cuộc biểu diễn.
Sinh hóa là một hiện tượng có thực, nhưng với những năng lượng vô hình, khi nó biến thể, nhãn quan con người khó nhận ra, vì vậy nó có vẻ trừu tượng. Nhưng, những hiện tượng xảy ra trong đời sống, con người dễ cảm nhận hơn. Như, những sinh hóa của năng lượng, năng lực, của các thể linh thiêng trong tiến trình thai nhi được cấu tạo trong bụng mẹ.
Tiến trình năng lượng cấu tạo thai nhi theo luật sinh hóa của vũ trụ:
Sự Sáng sinh hóa ra Điện. Điện sinh hóa ra Khí. Và Khí sinh hóa ra Huyết.
Để dễ nhận, tiến trình sẽ như sau:
Sự Sáng → Điện → Khí → Huyết
Cấu trúc không đơn giản như vậy trong sự sinh hóa.
Khi Sự Sáng (thể sáng) sinh hóa ra Điện, thì trong một đơn vị của điện đã có nhiều đơn vị của Sự Sáng sinh động trong đó.
Khi Điện sinh ra Khí, thì trong một đơn vị của Khí đã sinh động nhiều đơn vị của Điện và Sự Sáng.
Khi Khí sinh ra Huyết, thì trong một đơn vị của Huyết có nhiều đơn vị của Khí, Điện, Sự Sáng trong đó đang sinh động.
Như vậy, cấu trúc sinh hóa các năng lượng sẽ được trình bày như sau:
Sự Sáng → Điện.
Điện (Sự Sáng) → Khí.
Khí (Điện, Sự Sáng) → Huyết.
Cuối cùng, Huyết chứa đựng sự sinh động của Khí, Điện, Sự Sáng trong nó:
Huyết (Khí, Điện, Sự Sáng).
Trên đây là sự diễn tiến của năng lượng trong sự sinh hóa theo hiện tượng vật lý. Trong sự sinh hóa của 2 vũ trụ, thì hiện tượng vật lý cũng là hiện tượng sinh lý.
Theo hiện tượng sinh lý, thì những bộ phận, cơ quan trong thai nhi được cấu tạo theo sự tuần tự của sự sinh hóa như thế nào?
Từ mầm sống (não) sinh hóa ra hệ thần kinh, đến các kinh, và sau hết là tạng, phủ…
Hay là:
Não bộ → hệ thần kinh → kinh lạc → tạng phủ
Như vậy, tiến trình sinh hóa vừa có tính cách vật lý và sinh lý xảy ra đồng bộ như sau:
Sự sáng → Điện → Khí → Huyết
↕ ↕ ↕ ↕
Mầm sống (não bộ) → hệ thần kinh → kinh, lạc → tạng phủ
Từ mầm sống (não bộ) hay là từ sự sống có trong não con người sinh hóa ra những sức sống khác. Những sức sống này tương quan với mỗi loại sinh hoạt, và chúng cũng là nguồn gốc của sự di truyền căn cứ trên bốn thể linh thiêng để có những đặc thù trong sinh hoạt của đời sống.
Những đặc thù trong sinh hoạt của đời sống phần lớn do sự di truyền. Chúng tạo cho mỗi gia đình có cách sống khác nhau do tập quán của sự di truyền.
Nguồn gốc sinh hóa của chúng là:
Sự sáng → Điện → Khí → Huyết
↕ ↕ ↕ ↕
Trí → tư tưởng → tình cảm → cảm giác
Sự sống sinh hóa ra sức sống, nhưng trong sức sống được sinh hóa luôn luôn sinh động bên trong nó sự sống. Như vậy:
Trong tư tưởng đã có Trí khôn sinh động. Trong tình cảm đã sẳn có tư tưởng và Trí khôn sinh động.
Trong cảm giác đã sẳn có tình cảm, tư tưởng và Trí khôn sinh động. Hay là:
Trong Tư tưởng (có Trí khôn sinh động),
Tình cảm (tư tưởng, Trí khôn)
Cảm giác (tình cảm, tư tưởng, Trí khôn).
Khi thai nhi đạt đến mức đầy đủ năng lượng, năng lực để có thể sống trong thế giới tự nhiên, nó tự đòi ra, không phải người mẹ muốn sinh ra nó theo thời gian lựa chọn (3).
Khi thai nhi ra đời, sinh hoạt của nó bắt đầu theo tiến trình chuyển hóa.
Trẻ con có cảm giác trước, dần đến phát sinh tình cảm, đến tư tưởng và cuối cùng đến phát triển Trí khôn để vào lĩnh vực Hiểu của Trí thông minh.
Trong sinh hóa của thai nhi:
Sự sáng → Điện → Khí → Huyết
↕ ↕ ↕ ↕
Trí → tư tưởng → tình cảm → cảm giác
Trong chuyển hóa của trẻ con đến lúc trưởng thành, diễn tiến của các thể linh thiêng sẽ đi ngược lại để tăng năng lực:
Sự sáng ← Điện ← Khí ← Huyết
↕ ↕ ↕ ↕
Trí thông minh ← tư tưởng ← tình cảm ← cảm giác
Khi đã hiểu được luật sinh hóa và chuyển hóa các năng lực, thì việc nhốt mình trong hòm kiến mà vẫn sống được, không phải là điều con người không thể làm được. Nhưng sự việc này diễn tiến như thế nào?
- Luật chuyển hóa được áp dụng trước.
Bắt đầu, hành giả hồi quang đưa toàn bộ Sự Sáng tập trung về não, tức là Sự Sáng sinh động trong Điện, Khí, Huyết trong toàn nhục thân được đưa về não.
Sự Sáng không sinh động trong Huyết, không có những tín hiệu từ Huyết đưa về não, nên không còn cảm giác ở nhục thân.
Với hai hệ Khí và Điện cũng vậy, khi Sự Sáng không sinh động trong chúng, thì tình cảm và tư tưởng cũng không còn.
Sự sáng tụ về não, không còn tiềm tàng sinh động trong hệ thần kinh thực vật nữa, nên tim ngưng đập, phổi ngưng thở… Sự sống vẫn còn, nhưng những sức sống khác thì ngưng. Lúc đó hành giả chỉ còn lại một ý thức duy nhất về trạng thái hư vô – một trạng thái chỉ có Sự Sáng (sự sống) tự sinh động để tăng năng lực một cách tự động để năng lượng của nó tăng dần đến mức đầy đủ, để có thể quay trở lại chu kỳ sinh hóa năng lượng, và cung cấp cho nhu cầu của nhục thân.
Đến đây, hành giả sử dụng lực sinh hóa để cho Sự Sáng (sự sống) sinh hóa ra các loại năng lượng để cung cấp cho các bộ phận, cơ quan của nhục thân để duy trì sức sống mà không cần đến ăn, uống, hít, thở…
Khi sức sống giảm dần, thì Sự Sáng (sự sống) bắt đầu tỏa ra một cách tự động để quân bình mọi năng lượng.
Về phương diện sinh lý, sự sáng cung cấp năng lượng cho cơ thể qua những bộ phận và với những chức năng nào?
- Sự Sáng tỏa ra từ não vào hai mạch Nhâm, Đốc, biến thành “điện” để quân bình điện thế. Sau đó, dòng điện được chuyển sang “khí” để chạy vào các kinh. Cuối cùng, “khí” từ các kinh được chuyển thành “Huyết” để nuôi các tế bào.
Tất cả loại năng lực được sinh hóa từ Sự Sáng của não đều trong trạng thái vô nhiễm những độc tố trong thời gian hành giả thiếp nghỉ.
Do không dùng đến các thức ăn uống, nên hệ tiêu hóa không hoạt động, không có sự bài tiết chỉ do sự cung cấp năng lượng tiên thiên sang năng lực hậu thiên, cho nên chỉ có tóc và râu dài thêm thôi.
Điều này cho ta thấy, năng lượng từ Sự Sáng sinh hóa, chỉ tăng chứ không giảm.
Trong đại vũ trụ, sự sinh hóa và chuyển hóa luôn xảy ra đồng bộ, hay là hai chức năng này sinh động đồng bộ. Nhưng, với trường hợp trên, trong tiểu vũ trụ, con người có thể điều khiển riêng rẽ từng chức năng, hoặc điều khiển sự chuyển hóa, hay sự sinh hóa năng lượng để thực hiện những việc phi thường.
(1) Là phương pháp tập cho nhục thân khỏe và trường thọ, chủ yếu lấy “thanh khí” (oxy tinh tuyền vô nhiễm tạp chất) làm gốc. Đó là cách thở cực nhẹ và cực dài đem thanh khí xuống chứa ở hạ tiêu, trong khi đó Tâm không có tâm trạng, nên không có phản ứng của hóa chất, không khí mới trở nên “thanh khí”.
(2) Có một số ít loài thú có sinh vật điện. Những loài thú này ăn thịt các loài thú khác chỉ ăn cây cỏ. Nhiều sinh vật điện, nội lực của chúng toát ra, sau khi nhục thân chết, để thành yêu, tinh… Chỉ thiếu một nhân tố là Sự Sáng, đẳng cấp đã khác xa giữa con người và thú vật.
(3) Thai nhi được mổ lấy ra theo ý muốn của cha mẹ, vận số của nó không hòa nhập với Vận của vũ trụ.