KHOA HỌC TÂM LINH

Khám phá sự tuyệt đối nhờ vào tính toàn diện của cả 3 loại khoa học tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên

Sự Sống

Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi

Mục lục

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Đời sống con người có vô số những điều cần biết để tiến hóa. Những điều này xuất nguồn từ việc làm của Tạo hóa và con người với những sinh động, chuyển động không ngừng trong những hiện tượng, bộ phận hữu hình, siêu hình và vô hình trong cả hai vũ trụ.

Nhưng làm sao phân biệt được việc làm của Tạo hóa và con người?

- Những gì sinh hóa, được tác tạo từ một “Vận không ngưng nghỉ”, đó là việc làm của Tạo hóa. Dù, từ trong một Vận không ngưng nghỉ, nhưng mọi sinh tạo, tạo vật không giống nhau.

Còn việc con người làm có ngưng, nghỉ, có khuôn, mẫu.

Cùng một khuôn, mẫu, nên vật được tác tạo giống nhau. Nó không có một “Vận vĩnh cửu”.

Tóm lại:

Những gì được sinh hóa từ một “Vận vĩnh cửu” đều thuộc về sự sáng tạo của Tạo hóa.

Từ Thiên Lý, có Thiên Cơ, Thiên Năng.

Thiên Cơ hoạt động tạo thành Vận vĩnh cửu. Thiên Năng tăng, giảm, sinh hóa ra vạn vật trong “Vận vĩnh cửu”, nên sự sinh hóa, chuyển hóa tồn tại. Sinh hóa, chuyển hóa tồn tại, vì vậy mà vạn vật tiến hóa không ngừng.

Trí khôn con người thuộc về sự sáng tạo của Tạo hóa. Nếu không phải, làm sao nó có thể sinh hóa ra vô tận tư tưởng, mà chẳng cần đến một khuôn mẫu nào hết.

Nó có sức tiến hóa không ngừng, “nhờ vào chức năng sinh hóa và chuyển hóa đồng bộ”.

Đối với sự tiến hóa không ngừng, Trí khôn con người vừa là phương tiện, cũng là cứu cánh, nhưng rất ít người ý thức được, nên ngày nay, đa số dừng lại để thụ hưởng những kỳ diệu của khoa học.

- Từ năm giác quan, con người cảm nhận được “Sắc, Thanh, Hương, Vị, cảm xúc” cùng với sự phức hợp tự nhiên, và nhân tạo được đổi mới không ngừng.

Những ai nhận ra được điều này, đời sống của họ luôn linh hoạt. Ngược lại, nếu chỉ lo cho nhu cầu của nhục thân, thì thời gian sẽ trôi nhanh trong sự nhàm chán.

Nhờ vào 5 giác quan, con người có Trí khôn. Với sự sáng tạo của Trí khôn, ngày nay, nhiều phát minh trong khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật… làm tăng rất nhiều mức kỳ diệu cho đời sống. Sức lôi cuốn của sự kỳ diệu trong sự sáng tạo mê hoặc được Trí khôn của người bình thường. Và họ tận hưởng, hoặc học hỏi, sử dụng những phương tiện đó một cách thích thú.

Người ta đánh giá cao sự kỳ diệu của khoa học hiện đại, đặt niềm tin vào tính cách tối ưu của nó. Khi ta chỉ hướng vào một mục tiêu nhất định, thì các chức năng của Trí bị giới hạn trong lãnh vực đó.

Đối với Trí khôn được tạo nên từ sự cảm nhận của 5 giác quan, con người bị giới hạn trong thế giới tự nhiên, không thể đưa Trí khôn vào sự hiểu biết rộng lớn của thế giới siêu nhiên, hay mức toàn diện của 3 thế giới tự nhiên, siêu nhiên và siêu siêu nhiên, tức là cả vũ trụ vậy.

Thật ra, điều này do chính con người, không thể nhận ra, hoặc chưa nhận ra được thực tế và thực thể của Trí, tức là chưa nhận ra được khả năng và chức năng của Trí quá chậm, so với những gì Siêu Trí và Tuệ có.

Nhìn vào trong, ta cảm nghiệm được tốc độ suy nghĩ của một vấn đề, để hiểu được rất chậm và rất lâu, so với tốc độ suy nghĩ thật nhanh của Siêu Trí trong một siêu kiến của giấc mộng.

Đến mức này, người ta nhận ra bộ phận quan trọng để tiến hóa con người là Trí.

- Trí nhớ con người là một chức năng, nhưng khả năng nhớ lâu, nhớ rõ là sự tiến hóa của chức năng đó.

Nhờ đâu, mà khả năng nhớ lâu, và nhớ rõ có được, nếu khả năng này không phải là một Lực có cường độ mạnh, thì làm sao những gì được đưa vào bộ nhớ có thể lưu lại lâu trong đó.

Như vậy, sự tiến hóa trong con người do ở một thể chất có Lực, và do ở sự gia tăng về cường độ của nó.

Từ đó, ta có thể nhận ra, trong sinh hoạt của một người bộc lộ được năng lực và cường độ của năng lực đó. Và, đó là người tiến hóa.

Như một người có khả năng nhớ rất lâu và rõ, khả năng này cho thấy người này rất tiến hóa.

Dựa vào đâu, ta thấy rõ được mức tiến hóa của một cá nhân?

- Trí là một bộ phận quan trọng hoạt động bằng thể sáng (Sự Sáng), nhưng cường độ của năng lực này không giống nhau ở mỗi chức năng của Trí.

Cường độ năng lực của Sự Sáng từ thấp đến cao:

Trí quan sát đến Trí nhớ, và cuối cùng là Trí suy nghĩ.

Cường độ năng lực của Sự Sáng của Trí càng cao, thì thời gian suy nghĩ được lâu và Hiểu nhanh.

Mức tiến hóa của một cá nhân dựa trên năng lực của Trí, mà chức năng biểu lộ mức tiến hóa cao nhất, là ở Trí suy nghĩ.

Con người trên địa cầu hấp thu năng lượng quanh địa cầu để phát triển Sự Sáng (Sự Sáng của Trí). Sau đó, Sự Sáng được tăng trưởng bằng nhiều cách, nhiều phương pháp… để Sự Sáng thành năng lực của vũ trụ (Sự Sáng của Tuệ).

Sự Sáng phát triển từ con người trên địa cầu qua phương tiện là các giác quan để tạo nên Trí. Và Trí năng này tăng lên, để hòa nhập vào năng lượng của vũ trụ.

Chỉ có Sự Sáng của Trí mới có khả năng trở thành năng lực của vũ trụ.

Nhưng, nếu con người không nhận ra Sự Sáng vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh để con người có thể hằng sống, thì nó chỉ là một trong bốn thể linh thiêng sinh động bao gồm năng lực của Trời và Đất mà thôi.

Trong cơ thể con người có 4 thể linh thiêng sinh động. Người ta nuôi dưỡng phát triển thể nào, thì thể đó tăng trưởng và tạo nên một số hiệu quả.

Hai thể Thủy, Khí (trong cơ thể là Huyết, Khí) sinh động quanh địa cầu. Còn Điện và Sự Sáng sinh động trong cả vũ trụ.

Từ sự phát triển 4 thể linh thiêng, phát sinh ra rất nhiều phương pháp. (Những phương pháp phát triển những năng lực thuộc địa cầu, hay vũ trụ, liên quan đến những bộ phận hữu hình hay vô hình như Tâm, Trí, Tuệ v.v…)

Nhờ ở hiệu quả của các phương pháp, con người thật sự cảm nghiệm thấy Tâm Trí mình lớn hơn địa cầu, và Tuệ rộng lớn như vũ trụ vậy.

Sự cảm nghiệm này như thế nào?

- Các hành tinh, địa cầu to lớn, nhưng vô tri, vô giác, chẳng có tâm hồn mà linh hồn cũng không. Nhưng nhờ nó, mà nhục thân con người được địa cầu nuôi sống.

Cho đến khi, con người nhờ Tu, Luyện, Hiểu và sống bằng Đạo lý, trở thành tiểu vũ trụ, thì con người lại lớn hơn địa cầu, nhờ ở Tâm, Trí.

Tâm, Trí con người vô hình, nhưng lớn hơn địa cầu. Tuệ lớn như vũ trụ, khi Sự Sáng của nó tỏa ra.

Tuy vậy, Tâm Trí không phải lúc nào cũng lớn hơn địa cầu, có lúc nó nhỏ hẹp, hoặc vô lượng, vô biên.

- Tâm Trí nhỏ hẹp khi Tâm có tâm trạng. Trí có tư tưởng liên quan đến tâm trạng, đến bản ngã.

- Tâm Trí vô biên, vô lượng, khi Tâm không có tâm trạng (Tâm hư vô, hay chơn không) và Trí không có tư tưởng liên quan đến bản ngã, mà chỉ có toàn là “Lý vô hình” của vũ trụ (1) sinh động mà thôi.

Tâm vô biên, vô lượng, cũng là “trạng thái Hư vô của Tâm”. “Trạng thái Hư vô của Tâm” là “cõi trường sinh vô tận”.

- Thân xác già nua hay trẻ, đều do trạng thái của Tâm:

Phàm tâm: tâm trạng động, hình ảnh vương vào không gian, thời gian của địa cầu, của cõi trần. Gương mặt in thời gian, in tâm trạng, nên nhục thân là sự sống. Do đó, mà thân xác già nua.

Chơn tâm: vô tâm trạng, vô thời gian, vô không gian. Đây, chính là cõi Hư vô. Cõi này cảm ứng với vũ trụ, hay nó là vũ trụ vậy.

“Nó không có tuổi tác của trần thế”. Sống bằng cõi đó, thân xác trẻ mãi.

Tóm lại:

Muốn vào cõi trường sinh vô tận, “nhất nhất” đều từ trạng thái Hư vô của Tâm.

Tâm mà được Hư vô mãi mãi, là con đường để vào sự hằng sống của vũ trụ.

(Tâm Hư vô là Tâm vô tâm trạng, Thân vô cảm giác, lúc đó chỉ còn lại sự chủ động của Trí.

Vô cảm giác: Trí sinh động riêng rẽ, “Thân” không cảm thấy nóng, lạnh, no, đói, đau, bệnh v.v…, vì hệ thần kinh giao cảm ngưng liên hệ với những gì thuộc về những hiện tượng của Huyết và Khí, của nhục thân.

Do đó, mà năng lực được phục hồi, nên các bệnh do Khí, Huyết sinh ra, được lành từ gốc.

Nhưng, điều cần biết thêm, là sống bằng sự hư không, Thân, Tâm, Trí cảm biết những gì?

- Hơi thở ra, vào cực nhẹ, thân thể khỏe mạnh.

Khí thân hiện ra lúc ngủ trong giấc mộng. Ban ngày, hoặc lúc tĩnh thức, cảm nhận được sự, việc sắp xảy ra bằng khí thân.

- Tâm không còn tâm trạng dao động, đầu và não cảm thấy cực nhẹ.

Điện thân hiện ra, từ trường nhân điện châu biến, linh cảm được từ trường của tha nhân, nên được gọi là tha tâm thông.

- Trí ở trong trạng thái Thuần Trí, vì vậy Trí thông minh rất sáng suốt và Hiểu rất nhanh. Chỉ còn Sự Sáng của Trí thông minh sinh động mà thôi.

Trong trạng thái của Thuần Trí, tình cảm cá nhân không hoạt động, chỉ có nhân tình (tình cảm nhân loại) sinh động, nên không còn bản ngã, không nẩy sinh ra mâu thuẫn, đối đãi. Nhờ đó Trí thông được Lý.

Tuy nhiên, ta phải hiểu rằng, tình cảm cá nhân là một phương tiện để tiến hóa con người.

Từ sự sinh động của tình cảm, nhờ sự chơn không của Tâm, mà sự hiểu biết của con người thâm nhập được vào sự sinh động của Lý. Sự thâm nhập này mở rộng thêm tầm không gian cho sự hiểu biết.

Bất cứ sự mở rộng nào về ý thức, kiến thức, không gian, thời gian… đều liên quan đến sự đổi mới.

Vũ trụ không ngừng đổi mới, con người cũng vậy, đổi mới không ngừng cuộc sống trong sự tiến hóa của Thân, Tâm, Trí. Do đó, mà cuộc sống chan chứa niềm vui, thích.

Và những gì làm cho con người được vui, thích, thú vị… trong sự tiến hóa của đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh, mà không do con người tạo nên, đều là những ơn ích của vũ trụ xảy ra dưới dạng Phước, Đức, Đạo.


(1) Đạo nhân thực hành:

Suốt ngày đêm, chỉ nhìn vào cái Tâm Trí vô biên, vô lượng mà làm tan biến bản ngã đi.

Hay là, cái nhỏ hẹp của bản ngã mà tan biến đi, thì cái vô biên, vô lượng của Sự Sáng của Trí mới xuất hiện, và tự động sinh động cho đến khi cường độ của nó cao hơn năng lượng của vũ trụ, và bức xạ thành năng lượng, tự tạo lấy năng lượng cho nó.

Đã sao chép liên kết!