KHOA HỌC TÂM LINH
Sự Sống
Sức sống có Sinh, Diệt còn sự sống thì hằng sống, sinh và sinh mãi
- Bản quyền tác giả
- Lời mở đầu
- Chương I: VŨ TRỤ
- SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG
- SỰ TIẾN HÓA
- a. Những liên quan đến tính năng hằng hữu trong luật tiến hóa
- b. Tiến hóa trong mọi tạo vật
- c. Sự tiến hóa trong con người
- NĂNG LỰC
- NĂNG LỰC NGUYÊN THỦY
- 1. Sự sinh động trong năng lực nguyên thủy
- 2. Năng lực tự tạo trong con người
- NĂNG LỰC TÁC TẠO
- NĂNG LỰC TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN
- 1. Năng lực tiên thiên
- 2. Năng lực hậu thiên
- Năng lực hậu thiên và tiên thiên trong đời sống
- Dương và Âm
- Chương II: SỰ SỐNG
- CON NGƯỜI TÌM SỰ SỐNG
- SỰ SỐNG CỦA MỌI SỨC SỐNG Ở ĐÂU?
- 1. Những sinh động thuộc về vũ trụ, về tạo vật
- 2. Cái gì tồn tại mãi mãi
- a. Sự phi thường trong sự bình thường: là sự sinh động vô hình
- b. Sự cảm ứng của các loại lực của tiểu vũ trụ (con người) và vũ trụ
- c. Sự sống và sự hằng sống trong sự tự tạo
- SỰ SỐNG
- a. Dương và Âm trong sự sáng
- b. Nguồn gốc của mọi tạo vật trong Thân, Tâm, Trí
- c. Xúc tác là một động lực và cũng là chức năng cần thiết cho sự biến hóa mà nguyên động lực là Sự Sáng
- d. Sức sống trong sự sống
- e. Sự chuyển hóa của sức sống để thành sự sống
- LÝ
- a. Nhờ gì mà sinh linh cảm ứng được với Thiên Tuệ?
- b. Muốn làm chủ được tiểu vũ trụ, con người phải thấy rõ tất cả những thể, những hệ thống hình thành tiểu vũ trụ
- c. “Lý” là sự sinh động vô hình, là sự thật không biến đổi… tác tạo nên mọi vật hữu hình, siêu hình và vô hình (như Tánh, Trí…)
- 1. Thuận Lý
- 2. Chơn Lý
- 3. Đạo Lý
- d. Hiệu quả của Lý
- e. Tính tuyệt đối và tương đối trong sự sáng tạo và thụ tạo từ Lý
- g. Căn cứ trên hàng triệu sách, tài liệu, dữ liệu… chúng ta suy nghĩ, và phần nào kinh ngạc về kiến thức, sự Biết và Hiểu của con người
- NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG CỦA CON NGƯỜI
- a. Trí khôn
- b. Ý thức và phép lạ
- c. Con người có khả năng phát triển sự linh thiêng và mầu nhiệm hay không?
- d. Sự Sáng có thể tạo nên những lực khác, sự hiện thực xảy ra như thế nào
- e. Sự thành tựu phi thường khởi đầu do sự nhận ra được thời gian tồn tại tương đối và tuyệt đối của một giá trị
- g. Linh thiêng một yếu tố thành tựu của sự phi thường
- h. Một trong những thành tựu phi thường được sử dụng trong sinh hoạt của siêu nhân là thần thông. Vậy thần thông là gì?
- HIỆN TƯỢNG VẬT LÝ VÀ SINH LÝ TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
- Ngồi lâu trong nước
- Người sống chôn trong lồng kiếng
- Hiệu quả mầu nhiệm trong sự sinh động tâm lý
- Vật lý siêu nhiên trong những thành tựu phi thường
- SỰ MẦU NHIỆM TRONG SỰ SỐNG
- Sự kỳ diệu
- Sự linh thiêng
- Sự mầu nhiệm
- Chương III: CÁC ĐỜI SỐNG
- SỰ TỰ DO VÀ CON NGƯỜI
- a. Sự tự do có từ lúc nào?
- b. Ý và hành động
- c. Sự trưởng thành của Trí trong Lý
- d. Con người giống và khác nhau do đâu?
- e. Cách nhìn của mỗi mẩu người
- g. Sự tồn tại của thành quả
- 1. Môi trường và nhân sinh
- 2. Nhập thế và xuất thế
- ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
- a. Sự toàn hảo
- b. Sự bất toàn
- ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT
- a. Những yếu tố liên quan đến đời sống vật chất
- b. Ảnh hưởng và hậu quả của đời sống vật chất
- ĐỜI SỐNG TINH THẦN
- a. Những yếu tố của đời sống tinh thần
- Hậu quả của việc làm Thuận lý
- Tính chất bồi dưỡng của kiến thức trong đời sống tinh thần
- Tinh hoa nhân bản
- b. Hiệu quả và hậu quả của đời sống tinh thần
- c. Sự chơn chính của đời sống tinh thần
- 1. Tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- 2. Hiệu quả của tính siêu nhiên trong đời sống tinh thần
- ĐỜI SỐNG TÂM LINH – QUAN NIỆM ĐỊNH HƯỚNG
- TÂM LINH
- 1. Cái Một trong tâm linh
- 2. Những nhân tố hoạt động trong tâm linh
- 3. Cảm ứng siêu nhiên
- ĐỜI SỐNG NỘI TẠI
- 1. Sinh hoạt trong đời sống tâm linh
- 2. Sự siêu việt trong linh cảm
- a. Ý thức nội tại
- b. “Ý” là sự khởi phát của Sự Sáng
- c. Niềm tin hiện thực
- d. Sự tiến hóa thật của Trí khôn
- 3. Sự tích cực trong tâm linh
- a. Sự tích cực trong vô ngã
- b. Sự siêu thoát trong tâm linh
- c. Sự tiến đổi trong tâm linh
- 1. Mức cao nhất trong sự tiến đổi
- 2. Hiệu quả của sự tiến đổi của đời sống nội tại
- 3. Sinh động vô hình trong sự tiến đổi
- a. Sự tiến đổi con người vào đời sống tâm linh tạo ra một quan niệm sống mới, khác thường so với hai đời sống tinh thần và vật chất
- b. Sự Khoái, Lạc trong hiện sinh của đời sống tâm linh
- TIẾN HÓA TÂM LINH
- a. Tinh hoa của đời sống tinh thần và tâm linh
- b. Tinh hoa di truyền
- BA ĐỜI SỐNG
- 1. Dấu hiệu, sinh hoạt bên ngoài bộc lộ sự tiến hóa bên trong
- 2. May mắn thuận lợi trong sự tiến hóa của Tâm
- 3. Hiện tượng bên ngoài bộc lộ trạng thái bên trong
- 4. Tham, Dục mạnh của đời sống vật chất (hữu hình) trong nền văn minh vật chất
- 5. Muốn tiến hóa nhanh, phải dùng những bộ phận cao quý để điều khiển những thứ cần thiết
- GIÁ TRỊ ĐỜI SỐNG
- 1. Cách sống của mỗi mẫu người
- 2. Vẻ đẹp trong cuộc sống
- 3. Sinh hoạt của mỗi mẫu người
- 4. Giá trị của mỗi đời sống
- 5. Tính tích cực trong mỗi đời sống
- 6. Bảng tóm tắt về ba đời sống liên quan đến cõi giới, đời sống, bộ phận, Lý, sinh hoạt và giá trị
- Chương IV: SÁNG TẠO VÀ THỤ TẠO
- CON NGƯỜI
- 1. Tìm ở hiện tượng, di vật
- 2. Tìm nguyên nhân ở Lý
- 3. Tự hữu hay thụ tạo
- 4. Sự tìm kiếm nguyên nhân sinh hóa
- 5. Sự sáng tạo trong sự thụ tạo
- SỰ KỲ BÍ TRONG VÔ HÌNH
- 1. Sự sinh động vô hình
- 2. Những cơ quan vô hình và sự sinh động vô hình trong đó
- 3. Những cơ quan vô hình trong đời sống
- a. Tiến hóa trong sinh hóa
- b. Vận dụng những cơ quan vô hình
- c. Tiến hóa trong tư tưởng
- d. Tiến hóa trong sự vận dụng những sinh hóa mới
- SINH HÓA VÀ TIẾN HÓA
- 1. Sinh hóa
- a. Hiệu quả của sinh hóa
- b. Chức năng mầu nhiệm của sự sinh hóa
- 2. Chuyển hóa
- a. Chuyển hóa trong sinh hoạt
- b. Các cõi giới trong sự chuyển hóa
- 1. Cõi giới tự nhiên
- 2. Cõi giới siêu nhiên
- 3. Cõi giới siêu siêu nhiên
- CÁC LOẠI THÂN TRONG SỰ CHUYỂN HÓA
- 1. Thủy thân
- 2. Khí thân
- a. Nguyên khí
- b. Không khí
- c. Ngũ vị khí, cốc khí
- d. Sự hình thành Khí thân
- e. Sự tồn tại của Khí thân
- 3. Điện thân
- a. Dạng tâm lý và tinh thần
- b. Dạng tâm linh
- c. Sự hoạt động của điện thân
- d. Điện thân trong cấu trúc năng lượng của vũ trụ và con người
- 4. Quang thân
- a. Những biến đổi trong sinh hoạt trong tiến trình hình thành quang thân
- b. Sự hình thành quang thân qua sự ngưng nghỉ của các đời sống thông thường
- c. Quang thân đối với quy luật của địa cầu và vũ trụ
- Chương V: CẤU TRÚC HUYỀN BÍ
- CÁI NHÌN CỦA TRÍ KHÔN
- 1. Những sinh động vô hình trong con người
- 2. Sự suy nghĩ trong Sự Sáng của Trí và Tuệ
- a. Điều đáng nói: sự sống
- b. Sự thay đổi hướng sống và sinh hoạt
- c. Chủ động tạo sự lạc quan trong đời sống
- 3. Cái “có” khác thường của một sinh linh
- a. Sự tiến hóa tương đối của sinh linh
- b. Tại sao con người được gọi là sinh linh?
- Sự mầu nhiệm
- Những bộ phận vô hình và mầu nhiệm
- NĂNG LỰC TRONG SINH HOẠT, HÀNH ĐỘNG
- 1. Sức mạnh của tư tưởng
- a. Siêu ý hiện thực
- b. Sự tiến hóa không chu kỳ trong Sự Sáng
- 2. Tầm cỡ châu biến năng lực
- a. Sự vĩ đại của tiểu vũ trụ trong ý thức
- 1. Sự vĩ đại trong sự sống
- 2. Nội lực và sinh linh
- 3. Trí: con đường vào vũ trụ, chứa đựng sự sống
- 4. Sự toàn hảo trong sự sống sáng tạo
- a. Các loại Trí và mức độ sáng suốt
- b. Sống đúng với mức tiến hóa
- c. Năng lực tự tạo có sự sống vĩnh cửu
- d. Trí trong chức năng mầu nhiệm
- e. Trí trong chơn ngã xuất nguồn từ Lương Tâm
- Ý THỨC
- A. THU NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG
- B. THU HÚT NĂNG LỰC, NĂNG LƯỢNG BÌNH THƯỜNG
- 1. Ý thức trong sự Hiểu: chức năng đưa con người tiến hóa
- 2. Các trình độ liên quan đến Hiểu, Biết
- a. Người bình thường
- b. Người Trí
- c. Người tiến hóa
- 3. Sự “Hiểu” tăng mãi “khả năng Hiểu”
- a. Mức chưa hoàn hảo của Trí và Siêu Trí
- b. Sự tiến hóa và tiến bộ không cần đối tượng
- 4. Phương tiện tiến hóa con người
- a. Có mấy loại ý thức
- b. Tri thức (Hiểu, Biết)
- c. Động lực tiến hóa của ý và ý thức
- 1. Ý thức được sự linh thiêng và mầu nhiệm
- 2. Ý thức được tâm hồn và sự sống
- d. Ứng dụng phương pháp, và chức năng vô hình hóa để tiến hóa
- e. Sự quan trọng của ý thức
- 1. Sự thay đổi ý thức từ loại này sang loại khác
- 2. Các loại ý thức và các loại Trí liên quan
- 3. Ý thức trong Luân hồi
- 4. Hóa giải mọi nhân tố tạo nên Nghiệp
- a. Sự vĩ đại của vũ trụ và của con người
- b. Đạo nhân sống bằng sự sống, phàm nhân sống bằng sức sống
- c. Tính rốt ráo trong việc đi tìm sự sống
- 1. Bộ phận có khả năng tuyệt đối
- 2. Sự di truyền của sự sống qua các sức sống
- 3. Sự hỗn hợp của những nhân tố thuộc về thế gian và vũ trụ
- g. Ý thức trong sự quan sát
- CẤU TRÚC HUYỀN BÍ TRONG TIỂU VŨ TRỤ
- A. CHỨC NĂNG MẦU NHIỆM
- 1. Tỉ lệ linh thiêng và mầu nhiệm trong 4 thể và trong các loại thân
- B. CẤU TRÚC HUYỀN BÍ CỦA CÁC GIÁC QUAN VÀ CÁC LOẠI TRÍ
- 1. Ba chức năng của giác quan
- 2. Giác quan trong sự phát triển và tiến hóa
- 3. Sự trưng thu của giác quan qua ba cõi giới
- C. KHÍ
- 1. Tính chất của Khí
- 2. Sự hình thành của khí thân
- 3. Ba trạng thái để khí thân được hình thành
- 4. Sinh hoạt và phương pháp để tạo thành khí thân
- 5. Các loại khí trong con người và không gian
- a. Không khí và thanh khí
- b. Khí (tình cảm) chuyển động làm rung động cả hai cõi giới
- c. Ảnh hưởng trong và ngoài nhục thân của Khí
- 6. Sự liên quan của “Khí và Thần”
- a. Khí kém do hao tán
- b. Khí vượng
- D. THẦN
- 1. Thần yếu kém
- 2. Thần và nhịp tim
- 3. Khí hóa Thần
- 4. Triệu chứng Khí hao, Thần kém
- a. Khí hao
- b. Thần kém
- 5. Thần An
- 6. Cung cấp Lực cho “Thần”
- a. Năng lực được chuyển hóa về não
- b. Triệu chứng liên quan đến “Thần”
- 1. Thông Khí và bế Khí
- 2. Sự tán tụ của Thần
- E. THÁNH THAI VÀ THAI NHI
- 1. Sự toát ra của một loại thân
- 2. Thánh thai và trạng thái của Tâm Trí
- 3. “Thánh thai từ” Sinh Diệt vào sự sống
- 4. Thánh thai đến sự hằng sống
- 5. Hai cơ quan liên quan đến sự toát ra của điện thân
- a. Từ trường của năng lực
- b. Chức năng của từ trường nhân điện
- c. Những nhân tố tạo nên hào quang
- d. Tim và Phổi liên quan đến sự toát ra của điện thân
- G. LINH HỒN
- 1. Tâm hồn
- 2. Nguồn gốc của linh hồn
- 3. Cấu trúc linh hồn
- a. Sự minh triết của Siêu Trí
- b. Linh hồn xuất hiện trong hoạt động
- c. Sự siêu việt của linh hồn
- d. Linh hồn hoạt động
- e. Ảnh hưởng của linh hồn trong đời sống
- g. Nuôi dưỡng linh hồn
- 1. Sự thăng hoa của linh hồn
- 2. Tâm hồn và sự đam mê
- H. LƯƠNG TÂM
- 1. Sự thật và cái đúng tuyệt đối trong Lương Tâm
- 2. Những tinh hoa tâm lý
- 3. Chức năng của Lương Tâm
- 4. Hiệu quả của sinh hoạt bằng Lương Tâm
- 5. Bao giờ Lương Tâm hoạt động
- Chương VI: CỨU CÁNH CỦA ĐỜI SỐNG
- Chương VII: CON ĐƯỜNG VÀO SỰ SỐNG
- Chương VIII: CÁC PHƯƠNG PHÁP
VẬT LÝ SIÊU NHIÊN TRONG NHỮNG THÀNH TỰU PHI THƯỜNG
Những gì bất ngờ xảy đến cho ta, gây cho ta sự thích thú, kích thích óc tò mò, hay những gì tai chưa bao giờ nghe, mắt chưa từng thấy, ngoài sự suy đoán, suy nghĩ, ta cảm thấy ở chúng sự sinh động một sự kỳ diệu.
Nhưng, sự kỳ diệu không phải là chổ cuối cùng để con người đánh giá. Vì trong nó còn tiềm ẩn nhiều thứ để Trí khôn con người tìm kiếm, tìm hiểu những năng lực sinh động siêu hình, hoặc vô hình để ứng dụng chúng vào sự tiến hóa.
Đó là sự linh thiêng và mầu nhiệm. Hai nhân tố này không phải là những danh từ trừu tượng, mà chúng là năng lực có thật, có khả năng và chức năng tác động và xúc tác vào ngoại lực để tạo ra sự kỳ diệu.
Như đầu và não con người.
Năm giác quan ở đầu. Sự sắp xếp 5 giác quan ở vị trí cao thấp tương ứng với khả năng cảm nhận trong không gian xa gần.
Mắt nhìn được xa nhất, và sự cảm nhận về không gian của các giác quan khác dưới mắt được rút ngắn lại, và cuối cùng là xúc giác… chỉ trực tiếp cảm nhận không có một quãng cách.
Sự kỳ diệu của 5 giác quan là chức năng đưa những tín hiệu bên ngoài vào não để con người biết, và ý thức được điều mình biết.
Nhưng, biết và ý thức được điều mình biết không phải là mức cuối cùng của hoạt động của Trí khôn, vì còn sự Hiểu nữa.
Tất cả ba chức năng này điều vô hình. Nhưng, vô hình mà hoạt động được, tất nhiên chúng nhờ vào những động lực. Những động lực khởi động cho những chức năng vô hình, dù cho chúng chỉ sinh động từ não bộ, cho đến nay chưa một phương tiện, một máy nào nhận dạng được, những động lực này cũng thuộc về vật lý. Nhưng, chúng nằm trong vật lý siêu nhiên và siêu siêu nhiên.
Những thực hiện phi thường nằm trên cơ sở vật lý siêu nhiên của một ít người đã mở đường cho con người vào cõi siêu nhiên, dù đó chỉ là con đường nhỏ mà nhãn quan vừa thoáng thấy từ những hiện tượng vừa lạ lùng, vừa kỳ diệu trong những biểu diễn.
Con đường nhỏ sẽ được mở rộng để nhiều người có thể vào dễ dàng trong cõi siêu nhiên, nếu những thực nghiệm phi thường đó được tạo thành phương pháp khoa học dễ thực hành, với giải thích dễ hiểu, và mức chính xác trong sự điều khiển nội lực và thực lực.
Với người cầu tiến, những hiện tượng mới, là động lực khơi động trí suy nghĩ của họ, huống gì là vật lý siêu nhiên – một lãnh vực làm phát triển sự thông minh của hai loại Trí, tức là siêu Trí và Trí, vì cả hai loại Trí có cùng một bộ nhớ.
Trong thực nghiệm qua sự điều khiển của nội lực và thực lực từ não bộ, sự sinh động bên trong nhục thân không có sự phân chia thành những lãnh vực riêng rẽ của một nhân tố đồng nhất thành từng ngành như vật lý, sinh lý và tâm lý, mà cả ba là sự đồng nhất trong một nhân tố.
Tương tự như người ta thường chia ra thành 3 phương diện của một vật thể là: bản thể, bản tính và tính năng (năng lực của bản tính). Nhưng thật ra cả ba là một.
Trong thế giới cũng như trong cõi tự nhiên, mức độ phức tạp trong cấu trúc cao nhất được tạo nên bởi nhiều nhân tố mang tính kỳ diệu của nhiều chức năng. Càng nhiều chức năng, sự điều khiển của Trí làm cho Trí tăng nhanh trí năng. Nhưng, sự chính xác trong sự điều khiển những chức năng dễ nhận ra sự khác biệt về khả năng đưa đến sự phân biệt rõ rệt về bản năng, khả năng và thiên tài năng (1).
Dù với cấu trúc phức tạp chứa đựng nhiều nhân tố, nhưng đa số người điều khiển những chức năng rất dễ dàng, vì sinh hoạt và hoạt động xảy ra dưới dạng hữu hình. Nhờ ở hữu hình, trí khôn con người phát triển nhanh, tất cả được bộc lộ ra trước nhãn quan. Và thị giác là giác quan rất quan trọng để tiến hóa trí khôn con người nhanh hơn bốn giác quan kia.
Với vật lý siêu nhiên, mọi hiện tượng không xảy ra ở dạng hữu hình, mà tất cả ở dạng siêu hình. Nó vượt qua tầm quan sát của nhãn quan về cấu trúc của nó cũng như về không gian.
Con người nhỏ bé và yếu đuối so với thế giới tự nhiên, nhưng chức năng suy nghĩ duy nhất của Trí làm tăng tánh hiếu kỳ và lòng tự đại của mình. Hai tính này kích thích sự sáng tạo bằng sự chấp nối tầm quan sát của nhãn quan với những siêu viễn vọng kính, những phương tiện hoạt động xa trong không gian.
Con người luôn tìm kiếm những điều kỳ lạ, trong tầm nhìn cực xa, cực to và cực nhỏ. Ngày nay kỳ diệu tiếp nối kỳ diệu, nhưng chức năng và khả năng của mọi giác quan vẫn chưa thâm nhập vào cõi giới siêu nhiên được. Có thể nói con người không thể khám phá ra thực thể của thế giới siêu nhiên bằng những phương tiện hiện hữu, được chế tạo bằng trí khôn, được phát triển qua sự sử dụng của năm giác quan.
Điều xác định được, là phương tiện nhân tạo không thể đưa con người vào thế giới siêu nhiên được. Nhưng, những cấu trúc, bộ phận, cơ quan siêu hình và vô hình trong cơ thể con người mới đưa con người vào thế giới đó, qua sự cảm nhận của trực giác quan và linh giác quan. Nhờ vào sự cảm nhận của hai loại giác quan này, mà siêu Trí và Tuệ mới nhận ra được sự sinh động của vật lý siêu nhiên và siêu siêu nhiên trong cơ thể con người.
Không phải từ những thành tựu phi thường ngày nay, Trí khôn con người xác nhận, có một điều gì đó rất huyền bí luôn sinh động bên trong sinh hoạt và hoạt động của mỗi người.
Có những điều ngày nay có, chúng cũng đã có từ thời xa xưa, nhưng ít người nhắc đến, vì vậy mà nguyên nhân của chúng rất mờ mịt, và sự ứng dụng không được phổ biến rộng rãi.
Một trong những môn mang tính vật lý siêu nhiên là môn châm cứu, bấm huyệt mà y học Đông, Tây chưa có sự công nhận đồng nhất về hiệu quả của nó. Vì sao?
- Vì nó rất khó dùng. Nó đòi hỏi một kiến thức tích lũy từ hai loại, Trí và siêu Trí, và sự hiểu biết uyên thâm của sự sinh động và chuyển động của các loại lực từ trong ra ngoài, là huyền năng, huyền lực, thần lực và tinh lực được chuyển động trong những tuyến vô hình.
Từ vài ngàn năm trước, nó là môn cấp cứu đạt đến mức “cứu tử, hồi sinh” mà không cần thuộc bên ngoài đưa vào nhục thân.
Thoáng nghe, lời nói này thật là phi lý. Nhưng, không phải ở mức độ nào của Trí khôn cũng hiểu được Lý.
Không cần thuốc bên ngoài đưa vào nhục thân, vậy lấy gì để hồi phục sức sống trở lại trạng thái bình thường của sức khỏe, và để cứu sống sinh mạng.
Thật ra, dược chất đã tích sẵn trong thân người. Dược chất này không còn ở trạng thái thô thiển của vật lý tự nhiên trong thảo mộc, trong sinh vật, mà loài người, cho đến nay, mới tìm ra trên ngàn vị thuốc.
Dược chất thô thiển trong thảo, mộc, trong sinh vật được tạo nên do Trời, Đất, tức là do ánh sáng mặt trời, khoáng chất dưới đất, Khí, Thủy. Các loại dược chất này chỉ bồi bổ cho Khí và Huyết. Một ít số khác thu được tĩnh điện trong bầu khí quyển, chúng có khả năng an Thần (2), cường hóa Thần.
Dược chất dưới dạng thô thiển tiềm tàng trong thực vật và sinh vật được đưa vào nhục thân qua sự ăn uống.
Vào trong cơ thể, chúng được biến đổi thành một loại năng lượng với dược tính cao hơn, dưới dạng vật lý siêu nhiên, một loại năng lực cao, có thể dẫn truyền nhanh trong kinh và mạch (nhân điện).
Ngoài loại năng lượng dưới dạng thực vật và sinh vật, con người nơi hội tụ bốn thể loại linh thiêng, quan trọng là năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) đã sẵn có trong nhục thân. Từ đó con người có thể hấp thu thêm từ bên ngoài vào một cách trực tiếp qua sự sinh động bên trong của năng lực tiên thiên, trong khi năng lực hậu thiên ngừng hoạt động.
Dược chất được tinh luyện từ bên trong cơ thể con người bằng Sự Sáng (thể sáng) và Điện từ não bộ, làm cho nó có tính cấp cứu nhanh, vì nó được chuyển sang dạng điện năng.
Dược chất dưới dạng điện năng được chứa giữ trong huyệt. Khi, huyệt được châm, hoặc bấm, điện năng được tỏa ra, dẫn truyền theo kinh và mạch đến những nơi năng lượng trong cơ thể hao hụt, với thời gian nhanh hơn là dược chất được đưa vào, qua sự tiêu hóa dưới dạng thô thiển.
Với phương tiện khoa học hiện đại, người ta chế ra máy dò huyệt, nhờ vào sự tỏa năng lượng ra từ vị trí đó mà huyệt được nhận ra.
Điều này xác nhận sự khám phá từ nhiều ngàn năm trước của môn này như một huyền ẩn và một số y sĩ chưa coi đó là một khoa học. Nhưng thử nghĩ, máy dò có huyệt, với người xưa, họ dùng phương tiện nào để tìm ra những huyệt siêu hình, và để vẽ vị trí của chúng trên thân thể.
Phương tiện hữu hình, qua một thời gian tập sử dụng, với khả năng, đa số người điều khiển được, vị trí hữu hình, mọi người, với nhãn quan, đều thấy được. Nhưng, đối với vị trí siêu hình, người định vị phải dùng đến thị trực giác quan, khi điện thân hoạt động. Hay là, khi điện thân xuất hiện, các trực giác quan mới hoạt động được.
Sự xuất hiện của điện thân không thể xảy ra theo ý muốn của Trí khôn, cũng như Trí khôn con người không thể chiêm bao theo ý muốn, khi con người đang tĩnh thức, con người không chiêm bao được. Cũng vậy, khi nhục thân đang hoạt động, khí thân, điện thân không thể xuất hiện được. Tương tự như, khi nào tầng số thấp đang hoạt động, tần số trung và cao không thể dùng được, dù chúng đang tiềm ẩn sinh động trong đó.
Như vậy, muốn điện thân toát ra và hoạt động được, nhục thân phải hoàn toàn ngưng động. Hay là, con người phải ở trạng thái nửa thức, nửa ngủ.
Thức: là Trí hoạt động được, nhưng nhục thân ngủ, vì vậy mà Trí chuyển sang thành siêu Trí.
Ngủ: là nhục thân ngủ, không còn cảm giác, tình cảm sinh động, từ nhục thân, khí thân toát ra.
Không còn cảm giác, tình cảm tư tưởng sinh động, nhưng Trí vẫn còn ý thức được trong trạng thái chơn không, từ nhục thân, điện thân toát ra.
(Kết quả này do công phu của Tu và Luyện một cách nghiêm túc và có cơ sở khoa học. Trí khôn con người vẫn làm chủ được điện thân. Nếu không hiểu rõ, con người có thể bị điều khiển bởi tha lực do bùa, chú ảnh hưởng vào hệ thần kinh và não bộ, để cho khí thân và điện thân toát ra. Hoặc do thuốc ức chế vào não, để khí thân toát ra, như trong trường hợp giải phẫu, bệnh nhân được chụp thuốc mê.
Trước khi được đánh thuốc, bệnh nhân không có tâm trạng. Nhờ trạng thái vô tâm trạng, mà khí trong người kết tụ lại thành khí thân. Và sau đó, toát ra khỏi nhục thân, chứng kiến nhục thân mình đang được giải phẫu.
Một số pháp sư dùng thuốc uống, hoặc hương liệu có thể đưa khí thân của người khác vào sinh hoạt ở cõi giới phi cảm giác của thế giới siêu hình chỉ sinh động bằng khí, trong đó khí thân tiếp tục sống, mà ta gọi họ là ma).
Những hiện tượng và những sinh động siêu nhiên không phải do Trí con người suy diễn ra, mà chúng là những thực tế, với những thực thể siêu hình, chỉ được chứng thực rõ rệt ở sự tiến hóa của mỗi người.
Sự tiên cảm, tiên tri…, có người cảm nghiệm được lúc còn trẻ, người khác đến lúc già mới trải qua. Điều này do mức tiến hóa từ quá khứ, đã từng sử dụng Siêu Trí, hay do cách sinh hoạt bằng năng lực tiên thiên ở hiện tại, để những khả năng đặc biệt đó xảy ra trong tương lai.
Sở đắc những khả năng đặc biệt không quan trọng ở thời gian có trước hay sau, nhưng là ở mức tiến hóa. Người sau có thể sử dụng thành thạo, và hiệu quả hơn người biết trước.
Những khả năng đặc biệt có thể mất, nếu ta không hiểu rõ và duy trì chúng theo sự hiểu biết của một khoa học, dù đó là khoa học siêu nhiên.
Nó phải bắt đầu từ nguồn gốc sinh hóa, tức là từ nguyên nhân đến hiện tượng. Trong sự diễn tiến đó, có sự sinh hóa và chuyển hóa, hay là có sự sinh động thường xuyên trong những chức năng mầu nhiệm đó.
Nếu ta làm chủ được sự sinh động và điều khiển được sự sinh động trong đó, thì sở đắc mới được duy trì. Còn không, ta sẽ mất cả công phu, lẫn sự đổi mới trong đời sống. Và, đó là một sự phí phạm do tính chủ quan, và không hiểu một cách thấu đáo (3).
Trong khoa học tự nhiên và siêu nhiên, sự phát triển của Trí khôn bắt đầu từ hiện tượng vật lý, trên đó chức năng suy nghĩ của hai loại trí tìm kiếm nguyên nhân.
Sự thông minh của mỗi loại Trí được tạo nên từ sự suy nghĩ. Và con người suy nghĩ được, là nhờ vào các giác quan hay trực giác quan thu nạp những tín hiệu từ những hiện tượng tự nhiên, hay những hiện tượng siêu hình đưa vào não bộ.
Nhưng, mức thông minh của hai loại Trí khác nhau rất nhiều, do sự giảm bớt của chức năng của hai loại thân (nhục thân và điện thân).
Nhục thân: từ giác quan đưa những tín hiệu vào não phải trải qua nhiều giai đoạn hơn, tức là sự cảm nhận của giác quan, đến Biết, ý thức, suy nghĩ rồi cuối cùng mới Hiểu.
Trí con người muốn Hiểu được cái Lý có trong một hiện tượng phải trải qua nhiều giai đoạn, hay phải chuyển qua nhiều chức năng. Vì vậy, Trí thông minh của con người bình thường tăng quá chậm.
“Sự tích lũy của Hiểu trong Trí, tương ứng với mức tiến hóa của Trí thông minh”. Hay ngược lại, “sự sáng suốt của Trí thông minh do sự tích lũy của Hiểu trong não bộ”.
Trong công đức của mục tiêu giúp nhân loại, yếu tố quan trọng trong Trí thông minh không phải ở sự tích lũy sự Hiểu, mà ở sự phản ứng nhanh, chính xác, Thuận lý của Trí thông minh trong mọi sự, việc liên quan đến sự tiến hóa của mọi người.
Sự phản ứng nhanh và chính xác nhờ vào sự suy nghĩ trực tiếp từ nguyên nhân của sự, việc, hiện tượng, và ngay lập tức, đưa ra cách giải quyết. Nói một cách khác, là “Trí nhập vào Lý” vậy.
Sự phát triển của Trí khôn con người không đồng nhất trên phương diện sinh lý, trên tuổi tác. Nó do tâm lý của mỗi cá nhân, tùy thuộc vào sức sinh hoạt của nội lực, của năng lực tiên thiên trong cơ thể.
Sức sinh động của nội lực đưa Trí con người vào một cõi giới mới, vượt qua tầm hoạt động của các giác quan. Đó là cõi giới siêu nhiên được cảm nhận qua các trực giác quan của khí thân hoặc của điện thân với sự xuất hiện của Siêu Trí.
Sự mơ, mộng, thị kiến, tiên kiến v.v… là hoạt động của khí thân, điện thân cảm nhận những hiện tượng, sự, việc trước khi chúng xảy đến với nhục thân trong tương lai, là những sự kiện để Siêu Trí hoạt động, và cũng là những dữ kiện để “Siêu Trí” suy nghĩ để tiến hóa.
Sức tiến hóa của Siêu Trí nhanh hơn Trí thường, và những thành tựu phi thường phần lớn nhờ ở Siêu Trí, tức là do sức sinh động nhanh hơn của loại vật lý siêu nhiên, mà năng lực thuộc về năng lực tiên thiên.
Hay ngược lại, những thành tựu phi thường mang tính siêu nhiên, thì bản thể thuộc thể linh thiêng, với tính năng là sức sinh động cực nhanh. Nghĩa là 3 nhân tố trong vật thể của vật lý siêu nhiên là bản thể, bản tính và tính năng, là một thể cực nhẹ, chuyển động nhanh cùng với cường lực mạnh hơn trong thế giới tự nhiên.
Thời niên thiếu ai cũng trải qua những hiện tượng siêu nhiên ngay trong cơ thể mình, nhưng ít người quan tâm đến những biến đổi vô hình đó. Đa số chỉ coi những sự, việc liên quan trực tiếp đến nhục thân là quan trọng. Nhưng, tính quan trọng cho sự tiến hóa của Trí khôn con người là những diễn biến xảy ra bên trong.
Người nào nhận ra được điều này và khám phá ra được tính ưu việt của năng lực tiên thiên sinh động, người đó có thể dùng Siêu Trí để tiến hóa nhanh, ứng dụng chúng trong nhiều lãnh vực, và điều làm cho nhiều người ngạc nhiên là những thành tựu phi thường của con người nhờ vào biết cách sử dụng năng lực, năng lượng trong vật lý siêu nhiên và trong sinh lý.
(1) Từ này dùng để chỉ rõ những người mới sinh ra đã bộc lộ ra tài năng phi thường, mà trẻ cùng lứa tuổi không có được. Đây là tích lũy của sự thông minh, của kiến thức rất nhiều trong quá khứ (trong tiền kiếp) được đem ra dùng để tiếp tục tiến hóa.
(2) Không phải là thuốc an thần của Tây y dùng để ức chế sự suy nghĩ của con người. “Thần” là kết tinh của thanh khí và máu đỏ. Nó là lực vô hình sinh động trong máu đỏ ở tim, ảnh hưởng đến sự tăng, giảm của huyết áp.
(3) Dựa trên cơ sở khoa học, các chuyên gia thu điện năng từ ánh sáng mặt trời, giữ và dùng rất hiệu quả. Não người cũng thu được năng lực tiên thiên (Điện, Sự Sáng) trong vũ trụ, nhưng ta không biết giữ và dùng, nên tiến hóa chậm, và sống không lâu, trừ ra các vị tiên, thánh, đạo nhân, siêu nhân – những người thực sự đắc pháp.